BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

VI DEO GIỚI THIỆU SÁCH THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    VIET_NAM_MAU_3.jpg Larger_hqe1403055122.jpg Untitled.png CangBien.jpg

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Dám ước mơ - florence-littauer

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 15h:05' 11-03-2024
    Dung lượng: 1.2 MB
    Số lượt tải: 6
    Số lượt thích: 0 người
    MỤC LỤC
    LỜI GIỚI THIỆU
    LỜI MỞ ĐẦU
    PHẦN 1. DÁM ƯỚC MƠ
    PHẦN 2. CHUẨN BỊ CHO NHỮNG ƯỚC MƠ
    PHẦN 3. THEO ĐUỔI ƯỚC MƠ
    PHẦN 4. ĐIỀU CHỈNH ƯỚC MƠ
    PHẦN 5. CHIA SẺ ƯỚC MƠ

    LỜI GIỚI THIỆU
    Rất nhiều người ngỡ rằng ước mơ là những gì xa xôi, ngoài tầm
    tay với; là những viễn cảnh xa rời thực tại; là kết quả của sự thăng
    hoa từ cảm xúc và trí tưởng tượng của những người có tâm hồn lãng
    mạn. Thậm chí, có người còn cho rằng ước mơ chỉ là suy nghĩ viển
    vông của những ai không có động lực phấn đấu, của những người
    ngồi đung đưa trên chiếc xích đu ở cổng nhà mà cứ ngỡ mình đang
    rong chơi cùng các vì sao, của những kẻ xem bói với hy vọng được
    nghe những điều phán tốt lành cho tương lai, của những người sống
    trong mộng ảo khi luôn phân tích và tin vào số phận của mình qua
    những giấc mơ, hoặc của những người mua vé số và mòn mỏi đợi đến
    ngày con số may mắn kia được xướng lên trong bản tin chiều...
    Có vẻ như ước mơ không phải là bạn đồng hành thân thiết của
    chúng ta, mà lại sánh đôi cùng sự Mơ Tưởng hoặc niềm May Mắn.
    Liệu ước mơ có chút liên quan nào đến những con người trong thế
    giới thực tại - những người không lãng mạn cùng các vì sao, mây trời;
    không sống trong tháp ngà của những câu chuyện cổ tích; mà là
    người luôn phải bôn ba với cuộc sống, nỗ lực tìm kiếm những điều rất
    thực tế như sự vững chắc trong sự nghiệp, sự thành công trong kinh
    doanh, niềm hạnh phúc với mái ấm gia đình?
    Thật ra, ước mơ trong đời thực chính là những mục tiêu mà bạn
    khao khát đạt được trong cuộc sống của mình. Tuy nhiên, vẫn có một
    chút khác biệt giữa mục tiêu và ước mơ. Mục tiêu thường cụ thể và rõ
    ràng. Mục tiêu có thể theo dõi và đánh giá. Mục tiêu có thể kiểm tra và
    thẩm định quá trình tiến triển. Còn ước mơ sẽ làm tăng thêm cảm xúc
    sáng tạo cho mục tiêu, mở rộng tầm nhìn cho những định hướng và
    làm chúng ta thêm hy vọng ở tương lai. Ước mơ sẽ làm cho thực tế
    cuộc sống thêm phần tốt đẹp và sinh động hơn.
    Đó cũng là nội dung của cuốn sách Dám Ước Mơ của nữ tác giả
    Florence Littauer. Cuốn sách được dẫn dắt xuyên suốt bằng câu
    chuyện về cuộc đời và sự thành công của một phát thanh viên - em
    trai tác giả. Hy vọng với cuốn sách này, những ai chưa từng ước mơ
    sẽ nhanh chóng tìm thấy ước mơ của riêng mình; những ai đang nuôi
    dưỡng ước mơ sẽ củng cố thêm quyết tâm để biến ước mơ trở thành
    hiện thực; và những ai đã hoàn thành, đã chinh phục được ước mơ

    của mình sẽ tiếp tục cuộc hành trình tìm kiếm một ước mơ mới.
    - First News

    LỜI MỞ ĐẦU
    Người đi mua niềm tin
    Như thường lệ, vào lúc 6 giờ sáng mỗi ngày, phát thanh viên Ron
    Chapman xuất hiện trên đài phát thanh KVIL và bắt đầu chương trình
    của mình bằng những câu chuyện hài hước trước khi điểm thông tin,
    sự kiện trong ngày. Đã hơn 20 năm qua, thính giả ở thành phố Dallas
    vẫn duy trì được thói quen thức dậy vào lúc 6 giờ, lắng nghe chương
    trình buổi sáng với Ron Chapman để được khích lệ tinh thần và tìm
    kiếm sự phấn khởi trước khi bắt đầu một ngày mới.
    Nhưng buổi sáng ngày 31 tháng 3 năm 1988 thì khác hẳn. Một
    chương trình phát thanh không giống bất cứ chương trình nào trước
    đó. Ngay lời mở đầu, Ron đã nói với thính giả của mình rằng: “Tôi
    muốn mọi người hãy gửi ngay cho tôi 20 đô-la!”. Chỉ một câu thông
    báo ngắn gọn như thế. Không hứa hẹn! Không giải thích! Cũng không
    lặp lại nhiều lần! Thoạt đầu, Ron nghĩ chỉ có một vài người gửi tiền,
    nhưng chính anh cũng không ngờ rằng sáng hôm sau đã có 4.000 chi
    phiếu và thêm 5.000 nữa vào ngày tiếp theo. Sang ngày thứ ba, anh
    lên sóng phát thanh và nói với thính giả: “Tôi đã nhận được đủ rồi!
    Xin các bạn đừng gửi thêm tiền cho tôi nữa. Chúng tôi thậm chí
    không biết phải làm gì với số tiền này!”. Mặc dù đã thông báo như thế
    nhưng nhiều người vẫn tiếp tục tìm mọi cách gửi tiền cho Ron. Một
    số gửi đến địa chỉ nhà riêng của Ron, hoặc năn nỉ nhân viên bảo vệ
    chuyển giúp số tiền này. Dường như có một sự thôi thúc khiến mọi
    người cho đi 20 đô-la mà không cần biết lý do.
    Không biết rõ lý do của Ron nhưng tận trong thâm tâm, những
    người gửi tiền biết rằng nếu Ron Chapman yêu cầu gửi tiền, thì họ
    muốn được là một phần trong dự án của anh. Chỉ trong vòng một
    tuần, Ron đã nhận đến 12.156 chi phiếu với tổng giá trị gần một phần
    tư triệu đô-la. Lúc đầu, Ron đã nghĩ sẽ trả lại tiền cho mọi người kèm
    theo một món quà cảm ơn nào đó. Nhưng khi thấy số tiền nhận được
    ngày càng nhiều, Ron bắt đầu cân nhắc đến các phương án sử dụng số
    tiền quyên góp này.
    Sự kiện này đã thu hút giới truyền thông đua nhau vào cuộc. Báo
    chí và các trạm phát thanh từ khắp mọi miền đất nước bắt đầu liên hệ

    để được trực tiếp gặp Ron. Điều mà tất cả mọi người đều muốn biết
    là: “Từ đâu anh nghĩ ra ý tưởng này? Làm sao anh có đủ can đảm đề
    nghị người khác gửi tiền cho mình mà không nêu bất kỳ lý do chính
    đáng nào cả?”.
    Ron kể lại rằng trong một cuộc họp với ban điều hành mới được
    bổ nhiệm của đài phát thanh KVIL, anh đã trình bày cho họ nghe về
    những thành tựu trong sự nghiệp trước đây của mình. Họ đã bật cười
    khi nghe anh nói: “Chúng tôi đã xây dựng KVIL trở thành đài phát
    thanh được yêu thích nhất tại thành phố Dallas này. Lòng tin mà mọi
    người dành cho KVIL là rất lớn, đến mức nếu tôi lên sóng KVIL và đề
    nghị mỗi thính giả gửi cho tôi 20 đô-la, tôi tin rằng nhất định mọi
    người sẽ làm ngay”. Sự nghi ngờ của ban điều hành chính là thách
    thức khiến Ron quyết tâm phải thực hiện buổi phát sóng đó, dẫn đến
    sự kiện quyên góp tiền qua sóng phát thanh vào ngày 31 tháng 3 mà
    mọi người đã biết.
    Các đài phát thanh cạnh tranh không khỏi ngạc nhiên trước uy tín
    của KVIL đối với thính giả. Làm thế nào mà KVIL có thể tạo ra tầm
    ảnh hưởng sâu rộng đến thế? Giám đốc một trạm phát thanh đối thủ
    đã phải thừa nhận: “Nếu việc quyên góp này nằm trong kế hoạch
    quảng bá thì đây quả là một chương trình quảng bá tuyệt vời. Tôi
    không chắc là mình sẽ gửi cho ai đó 20 đô-la mà không biết lý do cụ
    thể. Trong suốt nhiều năm làm công việc phát thanh, tôi chưa từng
    thấy trường hợp nào tương tự”.
    Ngay cả những tờ báo và tạp chí ở nước ngoài cũng đăng những
    bài viết đặc biệt về người phát thanh viên đã huy động được 240 ngàn
    đô-la mà không cần nêu lý do. Thời báo Dallas Times Herald gọi Ron
    là “Phát thanh viên hàng đầu ở Dallas, huyền thoại của ngành công
    nghiệp phát thanh, người luôn đem đến niềm vui cho mọi người và
    là ông vua của chương trình buổi sáng”.
    Vậy Ron Chapman là ai và đã làm thế nào để đạt được ước mơ
    của mình? Tôi sẽ kể cho các bạn nghe chi tiết câu chuyện về người
    đàn ông này, bởi tôi là chị của Ron và là người luôn bên cạnh Ron
    ngay từ khi em mới sinh ra.
    Tôi vẫn còn nhớ mẹ tôi đã khóc khi sinh ra em: “Lại thêm một
    miệng ăn nữa rồi!”. Lúc ấy không ai trong gia đình tôi nghĩ rằng sẽ có
    một ngày, “cái miệng ăn” ấy có thể đem lại niềm vui cho hàng ngàn

    người vào mỗi buổi sáng và còn có thể kiếm được nhiều tiền hơn mẹ
    tôi từng ao ước. Ron đã đem đến những “điều kỳ diệu” không chỉ cho
    cuộc sống của gia đình tôi, mà còn cho tất cả những ai có cơ duyên
    được biết đến em.
    - Florence Littauer

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    PHẦN 1. DÁM ƯỚC MƠ
    “Tôi chân thành
    vì còn nhiều người tin tưởng tôi.
    Tôi trong sáng
    vì còn nhiều người quan tâm đến tôi.
    Tôi mạnh mẽ
    vì còn nhiều điều cần phải chịu đựng.
    Tôi can đảm
    vì còn nhiều việc phải dám làm.”
    - Howard Arnold Walter
    CÂU CHUYỆN GIA ĐÌNH
    Ký ức đưa tôi quay trở lại thời điểm năm 1935 tại thành phố
    Newton, bang Massachusetts. Đó là thời kỳ đất nước đang xảy ra tình
    trạng suy thoái kinh tế nên cũng như tất cả mọi người, gia đình chúng
    tôi phải đối mặt với vô vàn khó khăn. Nhà máy nơi cha tôi làm việc
    hơn 30 năm buộc phải đóng cửa khiến nguồn thu nhập chính của gia
    đình bị cắt đứt hẳn. Kiếm được một việc làm mới vào lúc đó không
    phải là chuyện dễ dàng, nhất là đối với một người đàn ông 57 tuổi
    chưa tốt nghiệp trung học như cha tôi. Bỗng chốc cha tôi phát hiện ra
    mình – một Walter Chapman không việc làm, không tiền bạc và
    không cả mơ ước! Tất cả những gì ông có lúc ấy là tôi, đứa con gái bé
    bỏng 7 tuổi, em trai tôi - James 4 tuổi, và người vợ nhỏ hơn ông gần
    20 tuổi đang mang thai.
    Tôi vẫn còn nhớ vào đêm trước lễ Giáng sinh khi tôi đã lên
    giường chuẩn bị đi ngủ thì nghe chuông cửa vang lên. Hiếm có ai đến
    thăm tổ ấm bé xíu của chúng tôi vào giờ này nên tôi bật ngay dậy để
    xem đó là ai.

    “Ồ! Dorothy!”, giọng mẹ tôi đầy ngạc nhiên. Tôi nhìn qua khe cửa
    để xem Dorothy là ai và nhìn thấy một người phụ nữ đã đứng tuổi với
    cách ăn mặc và phục sức rất sang trọng. Tôi thầm nghĩ người này
    chắc hẳn phải rất giàu có.
    “Katie, tôi không biết phải bắt đầu câu chuyện như thế nào”, bà ta
    nói. “Chị biết đấy, hai vợ chồng tôi không thể có con nên rất mong
    mỏi có được một đứa con nuôi. Chúng tôi có đầy đủ điều kiện để đảm
    bảo cuộc sống tốt nhất cho một đứa trẻ. Tôi biết chị và Chappie nuôi
    hai đứa lớn cũng khá vất vả nên xin chị cho phép chúng tôi nhận nuôi
    đứa nhỏ sắp sinh.”
    Bà ta muốn bắt em bé của tôi ư? Không thể được! Tôi cảm thấy
    như nghẹt thở nhưng vẫn cố đứng nép sát cánh cửa phòng ngủ để
    theo dõi câu chuyện.
    “Katie, chị vẫn có thể đến thăm nó thường xuyên.”
    Đến thăm ư? Tại sao bà ta không đến thăm em bé mà lại là mẹ tôi!
    Bố mẹ đã đặt nôi em bé cạnh giường tôi rồi. Tôi bật khóc khi nhìn cái
    nôi trống không. Tôi rất yêu em James, thích được chơi đùa với em,
    thích chải những lọn tóc vàng của em, cho em mặc đồ cũ của tôi và giả
    vờ xem em như là bé gái. Tôi đã sẵn sàng đón thêm một đứa em nữa,
    vậy mà người phụ nữ này muốn đưa em tôi đi ngay cả trước khi tôi có
    thể bế em trong tay.
    “Chị nói đúng! Có thể chúng tôi không đủ điều kiện để nuôi cháu”.
    Tôi nghe tiếng mẹ cương quyết. “Nhưng nếu Chúa đã cho chúng tôi có
    đứa con này thì hẳn Người sẽ có cách giúp chúng tôi nuôi được nó.”
    Hai người còn nói chuyện thêm một lúc nữa rồi bà Dorothy ra về.
    Trước khi bước ra cửa, bà vẫn còn nuôi hy vọng khi quay lại dặn mẹ
    tôi: “Katie, khi nào chị thay đổi ý định, hãy cho tôi biết nhé! Tôi có thể
    đến đón cháu bất kỳ lúc nào”.
    Bất kỳ lúc nào ư? Tôi nghĩ bụng: “Từ bây giờ mình phải để ý đến
    việc này thôi!”.
    Buổi sáng ngày 25 tháng 1 năm 1936, mẹ tôi dịu dàng ôm tôi và
    James vào lòng và cho biết rằng mẹ sắp vào bệnh viện sinh em bé. Tôi
    nhớ mình đã ôm hôn tạm biệt mẹ và hứa với mẹ rằng sẽ ở nhà ngoan

    - lời hứa mà tôi luôn bị bắt buộc phải nói mỗi khi chia tay. Tôi mong
    có một đứa em gái vì tôi đã có em trai rồi nhưng mẹ tôi lại cho ra đời
    một bé trai. Khi nghe bố thông báo tin đó, tôi tự hỏi không biết mẹ có
    cho em bé làm con nuôi không bởi vì tôi biết mẹ cũng thích con gái.
    Tôi quyết định là mình phải chăm sóc em bé thật tốt và nếu bà
    Dorothy có trở lại thì tôi sẽ giấu em đi ngay.
    Khi bố mẹ đưa em bé về nhà, tôi nhìn em và cảm thấy yêu em
    ngay tức thì. Tôi ngồi cạnh nôi em hàng giờ và đọc cho em nghe
    những câu chuyện mà em không thể nào hiểu được. Tôi còn làm thơ
    về em gửi đến tạp chí Wee Wisdom. Tác phẩm đầu tiên của tôi – bài
    thơ Em bé của tôi đã được đăng trên số báo xuất bản vào tháng 4
    năm 1936. Có thể bây giờ, bài thơ này không tạo ấn tượng gì đặc biệt,
    nhưng vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, tạp chí Wee Wisdom
    đã tìm lại bài thơ Em bé của tôi và cho in lại.
    Khi em bé được vài ngày tuổi, bố mẹ bắt đầu bàn bạc về việc đặt
    tên cho em. Tôi được đặt theo tên của bà nội và bà ngoại là Florence
    và Marcia. James thì được mang tên của ông ngoại và có tên lót là
    Walter, trùng với tên của bố tôi. Rõ ràng là trong hai lần đặt tên
    trước, mẹ đã thuyết phục được bố tôi nên lần này bố tỏ thái độ cương
    quyết: “Anh muốn được đặt tên con theo tên hai người bạn thân nhất
    của anh là Ralph và Fred”. Thế là em tôi có tên thánh là Ralph
    Frederick Chapman. Cả hai chú Ralph và Fred đều không có con nên
    họ đã rất xúc động khi biết bố tôi lấy tên của họ đặt cho con mình. Vài
    tháng sau đó, với sự hỗ trợ tài chính của hai người bạn này, bố tôi đã
    mua được cửa hàng Riverside Variety ở Haverhill, Massachusetts và
    chuyển cả gia đình về đó.
    Nơi chúng tôi dọn đến là một căn nhà màu nâu tồi tàn bên ngoài
    dán đầy những hình trang trí màu vàng, phía sân sau có hai xưởng
    sửa xe. Bên trong căn nhà là một cửa hiệu chất đầy kẹo và bánh. Nơi
    này đã trở thành phòng khách, phòng ăn và phòng sinh hoạt của cả
    gia đình chúng tôi. Sau cửa hàng có một gian bếp nhỏ; một phòng ngủ
    bé xíu cho cả năm con người và thêm một khoảng không gian trống
    chỉ đủ để kê một chiếc ghế trường kỷ và cây đàn piano.
    Cửa hiệu nhỏ đến nỗi nếu chúng tôi nói chuyện ở phòng trong thì
    khách hàng đứng bên ngoài vẫn có thể nghe được rất rõ. Đã vậy mà cả
    nhà tôi đều có giọng nói to, thế nên bố tôi quy ước rằng nếu chúng tôi
    đang nói về ai mà người đó bước vào cửa hàng thì ông sẽ báo hiệu

    bằng cách hát “Holy, Holy, Holy”. Quy ước này ăn sâu trong ký ức tôi
    đến mức giờ đây mỗi khi tôi đang nói mà bất chợt nghe lại giai điệu
    này thì dù ở bất cứ nơi nào, tôi cũng khựng lại ngay theo một phản xạ
    hết sức tự nhiên.
    Cuộc sống ở cửa hàng mới tỏ ra là một thế giới đầy hấp dẫn đối
    với Ralph vì ngày nào Ralph cũng có một số khán giả nhất định. Ngay
    từ khi biết nói một câu hoàn chỉnh, cậu bé đã thể hiện năng khiếu hài
    hước tuyệt vời và có ý niệm chính xác về thời gian. Ralph tiếp thu
    nhanh chóng những gì tôi dạy và có khả năng lặp lại những mẫu
    quảng cáo trên tivi một cách chuẩn xác với một giọng điệu hết sức
    ngộ nghĩnh khiến nhiều người sẵn sàng bỏ tiền ra để nghe cậu bé nói.
    Những khi cửa hàng vắng khách, tôi dẫn Ralph xuống xưởng sửa xe
    chơi, và những người thợ sửa xe cũng cho tiền để được nghe cậu bé
    đọc thơ.
    Nhưng khi đến tuổi đi học, sự hài hước của Ralph đã gây ra
    không ít phiền toái. Không phải giáo viên nào cũng thích tính hài
    hước đôi khi quá mức của cậu bé. Thậm chí một số thầy cô đã phải
    thất vọng thốt lên: “Sao em chẳng thông minh giống anh chị của em
    chút nào vậy!”. Mẹ tôi cũng rất sợ phải nghe lời phê bình của các thầy
    cô giáo về Ralph nên tôi phải đi thay mẹ trong các cuộc họp phụ
    huynh lớp em. Và khi về thuật lại cho mẹ nghe, tôi thường giấu bớt đi
    những trò nghịch ngợm của Ralph.
    Khi Ralph vào trung học, mẹ tôi đã phải nhiều lần giúp em làm
    các bài luận văn chương. Môn tiếng La-tinh và môn đại số cũng là
    một cực hình không kém đối với Ralph. Tôi vẫn còn nhớ lần em đang
    cố gắng giải bài toán yêu cầu tính tỷ lệ tấn cà phê Colombia với cà phê
    Braxin trong hỗn hợp. Ralph đã nhìn mẹ và nói: “Cách duy nhất để
    con có thể làm được bài toán này là gọi điện đặt hai tấn cà phê, đổ tất
    cả trước cửa hàng, trộn chúng lại rồi chúng ta sẽ mang thìa to ra đong
    đếm”. Lần đó, mẹ tôi, người mẹ mà trong đầu không có ý niệm gì về
    sự khôi hài, cũng không nhịn được cười.
    Em tôi dành hầu hết thời gian của mình để nghe đài phát thanh
    và học lời những bài hát đang thịnh hành lúc đó. Ralph để dành tiền
    mua đĩa của Spike Jones. Chẳng bao lâu sau em đã có thể hát được tất
    cả các bài hát của Spike và trở thành một diễn viên được yêu thích ở
    những buổi biểu diễn địa phương. Chị em tôi cùng nhau dành dụm
    tiền mua một cái máy ghi âm cũ và Ralph bắt đầu thu đĩa nhạc cho

    riêng mình. Ralph nhờ một người bạn đệm đàn piano để ghi âm bài
    hát Mule Train và mang đĩa đến đài phát thanh địa phương WHAV
    với hy vọng được phát bài hát của mình. Lúc đó chúng tôi không dám
    tin rằng đài phát thanh này lại có thể đồng ý phát một đĩa hát được
    sản xuất tại nhà và làm cho đĩa hát ấy nổi tiếng cả. Thế nhưng hy vọng
    của Ralph đã trở thành hiện thực.
    Lúc Ralph học trung học thì tôi trở thành giáo viên và dạy học tại
    trường của em. Mỗi ngày, chúng tôi vẫn cùng nhau đến trường và trở
    về nhà. Tôi vẫn luôn quan tâm đến Ralph như một người mẹ, người
    chị và cả cô giáo của em. Tôi vẫn thường chia sẻ tất cả những kinh
    nghiệm và kiến thức tôi học được với Ralph. Hai chị em chúng tôi
    được xem như là một đôi khắng khít và thường được mời tham gia
    các buổi tiệc. Sự hiện diện của chúng tôi làm cho không khí buổi tiệc
    trở nên sinh động hơn. Chúng tôi luôn cập nhật tin tức về tình hình
    thế giới và chuẩn bị sẵn một số ý tưởng cho các đề tài thời sự nóng
    hổi. Rồi chúng tôi đợi cho đến khi có ai đó nêu các đề tài này ra và bắt
    đầu thảo luận. Sự “bộc phát đã được chuẩn bị trước” này khiến chúng
    tôi trở thành linh hồn của mọi cuộc vui.
    Có lẽ điều duy nhất Ralph tỏ ra thích thú ở trường học là các ban
    nhạc và dàn đồng ca. Em học thổi kèn trumpet và học luyện giọng.
    Năng khiếu bẩm sinh đã giúp em trở thành học sinh xuất sắc trong cả
    hai lĩnh vực này. Nhưng Ralph vẫn không thôi những trò nghịch
    ngợm. Khi ban nhạc không hoạt động thì tất cả nhạc cụ được cất giữ
    trong một nhà kho có khóa và hàng rào chăng dây xích xung quanh.
    Kho nhạc cụ nằm gần nơi tôi dạy học và Ralph được giao chìa khóa
    kho. Khi thấy không có ai ở gần đấy, em liền mở cửa và xếp chiếc kèn
    tuba sao cho miệng kèn thò ra ngoài lỗ hàng rào. Lúc giờ học bắt đầu,
    em đến gần kho và vỗ thật mạnh vào miệng kèn. Khi giáo viên trong
    trường nghe tiếng kèn và chạy đến tìm kẻ phá phách thì chỉ thấy cái
    kho nhạc cụ vắng lặng và vẫn được khóa kín. Không ai hiểu được tại
    sao cái kèn lại có thể tự kêu trong cái kho khóa kín đó. Hội đồng giáo
    viên của trường đã họp lại và thống nhất giao cho một thầy giáo
    nhiệm vụ gác cửa kho nhạc cụ suốt ngày. Thế nhưng tiếng kèn ấy vẫn
    phát ra. Sau nhiều lần tìm kiếm thủ phạm không thành công, người
    thầy giáo ấy buộc phải từ chối công việc này.
    Trò tiếp theo của Ralph là biến lớp học đánh chữ thành một ban
    nhạc. Trước khi bắt đầu giờ học, Ralph thông báo cho các học viên
    mới đánh máy bài hát mà Ralph đã chọn. Khi giáo viên vào lớp và

    giao bài tập đánh máy cho cả lớp thì mọi cặp mắt đều quay về phía
    Ralph. Khi Ralph gật đầu làm hiệu, cả lớp liền đánh máy lời bài hát
    đã chọn. Alexander's Ragtime Band là bài đánh máy được yêu thích
    vì cứ hết mỗi dòng là chuông lại reo, còn Jingle Bells là bài hát được
    ưa chuộng nhất vào dịp Giáng sinh. Để em không bị đánh rớt trong
    môn học này, tôi đã phải hứa với giáo viên của lớp rằng Ralph sẽ
    dừng việc đánh máy các bản nhạc và rằng tôi sẽ không bao giờ cho
    phép em thực hiện các bài tập đánh máy nếu không có sự đồng ý của
    thầy giáo.
    Không thể không nhắc đến phong trào trồng vườn cũng vào thời
    trung học của Ralph. Những học sinh tham gia trồng vườn vào mỗi
    mùa hè sẽ nhận được 1/4 điểm thành tích hoạt động. Để có được 1/4
    điểm này, mỗi học sinh phải trồng một vườn cây riêng, phải ghi chú
    chi tiết thời gian gieo hạt, thu hoạch và nộp báo cáo vào thời điểm
    khai giảng năm học mới cùng với một mẫu sản phẩm. Ralph đã đăng
    ký phong trào này để có thêm điểm số cho kỳ tốt nghiệp cuối khóa.
    Thế nhưng, suốt cả ba mùa hè, em chẳng trồng được cây nào cả. Mỗi
    năm học mới bắt đầu, tôi và em đã phải chạy đến vườn cây nhà bà Lil
    và mua tất cả những gì có trong vườn. Sau đó tôi lại viết giúp em một
    bản báo cáo về thời gian gieo hạt, nảy mầm và phát triển rồi đính kèm
    vào giỏ sản phẩm em mang nộp cho thầy giáo. Nếu không có 1/4 số
    điểm làm vườn thì chắc hẳn Ralph khó mà tốt nghiệp trung học được.
    Ngày lễ tốt nghiệp, lúc ngồi trên hàng ghế dành cho phụ huynh, mẹ
    tôi đã thì thầm: “Lẽ ra hai mẹ con mình mới là người được nhận bằng
    tốt nghiệp hôm nay. Chúng ta đã làm gần hết mọi việc cho Ralph còn
    gì!”.
    Phải, mẹ và tôi đã làm phần lớn mọi việc, nhưng Ralph lại là
    người có khả năng thuyết phục chúng tôi làm những việc ấy. Lúc ấy,
    hai mẹ con tôi không hề nghĩ rằng sẽ có ngày Ralph thành công như
    ngày nay vì mẹ tôi vẫn luôn lo sợ: “Nếu sau này nó vẫn không nghiêm
    túc và thực sự làm việc thì có lẽ cuộc đời nó sẽ chẳng đi đến đâu được
    cả”.
    Đến khi trở thành sinh viên đại học, Ralph đã cộng tác với WHAV
    trong việc đọc tin tức và thực hiện những buổi phát sóng quảng cáo
    sản phẩm trực tiếp. Ralph còn được đặc cách thực hiện chương trình
    riêng dài mười lăm phút của mình hai lần một tuần.
    Mỗi buổi sáng, em mở radio để nghe chương trình Carl de Suez

    của đài Boston's WBZ-AM. Carl là một nhân vật nổi tiếng và được yêu
    thích ở nước Anh. Ralph nhanh chóng học theo và chẳng bao lâu em
    đã có thể hát được tất cả các bài hát của Carl phát trên sóng. Ralph
    ngưỡng mộ Carl vì: “Anh ấy là nguồn động lực để em thức dậy sớm
    mỗi ngày. Với anh ấy, dường như buổi sáng nào cũng là một khởi đầu
    tuyệt vời cho một ngày mới. Carl làm em cảm thấy thoải mái và phấn
    khích khi làm việc”.
    Từ đó, Ralph đã thức dậy sớm để được nghe chương trình của
    Carl, để bắt đầu một ngày mới đầy sức sống và để cảm nhận ý nghĩa
    của cuộc sống. Và với khả năng âm nhạc xuất chúng, với suy nghĩ
    nhạy bén và khiếu khôi hài đặc biệt, em đã làm được nhiều điều mà
    không ai trong gia đình chúng tôi từng nghĩ đến.
    KHỞI NGUỒN CỦA ƯỚC MƠ
    Không phải lúc nào chúng ta cũng gặp được những môi trường
    tốt để ươm mầm và nuôi dưỡng ước mơ. Đôi khi ước mơ bị chi phối
    bởi những định kiến và nỗi ám ảnh trong quá khứ. Một số người tin
    rằng mình sẽ chẳng bao giờ làm được điều gì lớn lao cả bởi bố mẹ
    thường xuyên nhận xét về họ như thế. Một số khác lại bị mặc cảm bởi
    sự không hoàn thiện về trình độ học vấn hay khiếm khuyết của bản
    thân nên tự cho rằng mình không đủ tố chất để thành công. Một vài
    người tuy đạt được mục tiêu đề ra và kiếm được nhiều tiền, nhưng
    tận sâu thẳm trong lòng vẫn cảm thấy chưa bằng lòng với chính mình.
    Chắc hẳn bất kỳ ai trong chúng ta cũng đã nhiều lần tự hỏi “Thực sự
    tôi là ai và có vị trí nào trong cuộc sống này?”, nhưng không phải ai
    cũng tìm được câu trả lời rõ ràng và thỏa mãn.
    Vì vậy, từ bây giờ chúng ta hãy mạnh dạn bước ra khỏi lối mòn
    của những nhận định và định kiến trước đây để bắt đầu một chặng
    đường mới phía trước. Xuất phát điểm cho tất cả những điều tốt đẹp
    trong tương lai là dám ước mơ. Đúng thế, nghỉ ngơi bao giờ cũng
    thoải mái hơn là cố gắng, từ bỏ bao giờ cũng dễ dàng hơn là giữ chặt.
    Nhưng nếu chúng ta mãi thụ động ngồi chờ đến khi con đường thành
    công hoàn toàn mở ra trước mặt thì có lẽ cả cuộc đời này chúng ta sẽ
    mãi ngồi trên chiếc xích đu trước cổng nhà. Bạn hãy hình dung mình
    đang đứng trên boong một chiếc tàu, ngắm đại dương bao la và trời
    xanh đầy nắng trong một tâm thế hoàn toàn tự do. Bạn có thể cảm
    nhận được mùi hương ngọt ngào của đóa hoa thành công, nhưng nếu
    muốn hái được chúng thì bạn phải rời vị trí và phải chịu đựng đau

    đớn bởi những chiếc gai nhọn của nó. Do đó, một số người thà ngồi
    tại chỗ để được thong dong chứ không muốn đứng dậy và di chuyển.
    Một số khác lại bằng lòng với những điều tương đối hơn là phải gắng
    sức để gặt hái những điều tốt nhất. Họ muốn ở vị trí an toàn hơn là
    mạo hiểm với ước mơ. Thậm chí một số người cho rằng không cần
    phải ước mơ vì số phận đã sắp đặt mọi thứ.
    Quyển sách này sẽ không hướng dẫn bạn cách đạt được thành
    công về mặt tài chính mà chỉ khuyến khích bạn hãy đứng dậy và rời
    khỏi chiếc xích đu trước cổng nhà. Bất kể bạn là ai, có tính cách ra
    sao, xuất thân và địa vị xã hội như thế nào, bạn đều có thể tìm thấy
    hình ảnh của chính mình trong những câu chuyện cuộc đời này.
    Đừng ngồi trên chiếc xích đu lâu hơn nữa! Đừng nhét ước mơ
    của bạn vào trong gối và ngủ quên! Đừng lưỡng lự, do dự chỉ vì sự trì
    trệ và thiếu quyết đoán! Tôi muốn khích lệ bạn hãy mạnh dạn bước ra
    khỏi cổng nhà. Hãy tiếp tục đi tới và tiến thẳng đến vạch xuất phát!
    TIẾN ĐẾN VẠCH XUẤT PHÁT
    Ước mơ hướng bạn đến với những điều mới mẻ và khác biệt so
    với thực tại. Ước mơ giúp bạn nuôi dưỡng khát vọng vượt lên những
    điều bình thường. Ước mơ mang đến cho bạn niềm vui sáng tạo và
    nhiều điều thú vị trong cuộc sống. Nhưng trên hết, bạn phải là người
    quyết định ước mơ của mình. Hãy thay đổi thói quen sống phụ thuộc
    vào những chỉ dẫn, lời khuyên của người khác để tự xác định ước mơ
    riêng cho cuộc đời bạn.
    Tôi biết có rất nhiều người một ngày nào đó chợt tỉnh dậy với
    ngọn lửa khát vọng bừng cháy trong tim. Ngay lập tức, họ nhận ra
    ước mơ đích thực của mình và quyết tâm thực hiện đến cùng để trở
    thành những con người thành công và nổi tiếng. Còn bạn thì sao, có
    ngọn lửa khát vọng nào đang bừng cháy trong tim? Bạn có cảm thấy
    lòng nhiệt huyết của mình đang tuôn trào nóng bỏng khi nghĩ đến
    những ước mơ? Đã đến lúc bạn phải đánh thức khát vọng sống và
    những ước mơ có lẽ vốn đã ngủ quên từ lâu trong tâm hồn bạn.
    Nhưng đâu là điểm bắt đầu? Ước mơ có thể được nhận diện bằng
    cách nào?
    TỪ CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI XUNG QUANH

    Trong quá trình trưởng thành và tự hoàn thiện bản thân, tôi đã
    không ngừng tiếp nhận nhiều điều tốt đẹp bằng cách đọc sách hay
    trực tiếp trò chuyện với những người xung quanh. Mỗi người là một
    thế giới riêng về công việc, cách suy nghĩ, thái độ sống khác nhau
    nhưng tôi nhận thấy rằng chỉ cần bạn biết lắng nghe và đặt câu hỏi
    đúng lúc, bạn sẽ khám phá ra được nhiều điều giá trị cho chính mình.
    Chấp nhận thử thách
    Ngay trong lần đầu tiên trò chuyện với John Smart - giám đốc
    kinh doanh một công ty thực phẩm Úc, tôi đã đánh giá cao năng lực
    của anh. John thu hút người đối diện bằng đôi mắt biểu cảm, ánh
    nhìn thân thiện và cách nói chuyện cuốn hút. Anh lớn lên trong định
    kiến của mọi người rằng anh sẽ không bao giờ thành công. Sau một
    lần kinh doanh thất bại khiến anh rơi vào tình trạng tuyệt vọng, anh
    gặp được một người phụ nữ quan trọng – người không chỉ giúp anh
    trở thành người bán hàng giỏi nhất nước Úc mà còn giúp anh trở nên
    tự tin hơn về bản thân mình. John khiến tôi tò mò muốn tìm hiểu về
    người phụ nữ đặc biệt đã làm thay đổi cuộc đời anh và những bí
    quyết mà bà đã giúp anh từ vực thẳm của nản chí và tuyệt vọng lên
    đến đỉnh cao của thành công và vinh quang. Và John đã xúc động kể
    cho tôi nghe về Rosemary Moore, người phụ nữ không bao giờ chấp
    nhận câu trả lời “không”.
    Không chấp nhận câu trả lời “KHÔNG”
    Rosemary là người Úc thuộc thế hệ thứ sáu của những người đầu
    tiên di cư đến Úc. Samuel Pratt Winter, tổ tiên bên nội của bà, từ năm
    14 tuổi đã rời bỏ Ireland sang Úc, lập nghiệp ở thung lũng gần ranh
    giới giữa Portland và Wannon River, bang Victoria. Samuel Winter
    Cooke, cháu trai của ông, là một trong những thành viên Quốc hội Úc
    từ những ngày mới thành lập. Tổ tiên bên ngoại của Rosemary là
    người Scotland di cư đến bang New South Wales, trong số đó có John
    Robertson - về sau trở thành thống đốc bang New South Wales.
    Rosemary là con cháu của những người đã dám ước mơ và đã thành
    công, những người không nản chí khi nghe người khác ngăn cản:
    “Ước mơ đó không thể thực hiện được”. Rosemary đã thừa hưởng
    tính cách mạnh mẽ không sợ thất bại ấy từ truyền thống gia đình của
    mình.
    Ở tuổi 40, Rosemary chưa cảm thấy thật sự hài lòng với cuộc

    sống của bản thân. Bà mong muốn được làm một điều gì đó thật khác
    biệt cho cuộc đời còn lại. Khi thấy một mẩu quảng cáo tuyển dụng
    giáo viên đăng trên báo, bà liền gọi điện đến để ứng tuyển. Nhưng
    thực ra đây lại là mẩu quảng cáo tuyển nhân viên bán từ điển bách
    khoa nên bà không mấy quan tâm. Mọi việc sẽ rơi vào quên lãng nếu
    Michael, chồng bà, không nói rằng đây là một việc vượt quá khả năng
    của bà và khuyên bà không nên cố thử sức. Tưởng chừng câu nói này
    sẽ làm Rosemary nản lòng nhưng thực ra đây lại chính là điều mà
    Rosemary, với cá tính nổi loạn di truyền của gia đình, đang rất cần
    được nghe. Bà cảm thấy mình đang bị “thách thức” và đã trả lời
    chồng: “Nhưng em vẫn muốn được làm thử!”.
    Khách hàng đầu tiên của Rosemary là những người bạn của bà,
    những người đã mua từ điển mà không cần nghe bất kỳ lời quảng cáo
    nào. Việc này cứ tiếp diễn cho đến một hôm, một người bạn của bà
    bất ngờ nói: “Nếu bạn không thuyết phục được mình rằng đây là một
    quyển từ điển hữu dụng thì rất tiếc, mình sẽ không mua nó đâu”. Điều
    này đặt Rosemary vào thế phải làm việc thực sự và bà đã bắt đầu dùng
    lý lẽ để thuyết phục khách hàng mua sản phẩm. Khả năng kinh doanh
    của bà đã được mọi người công nhận khi doanh số bán hàng ngày
    càng tăng cao. Điều này càng khiến bà thêm tự tin vào bản thân mình.
    Giá trị của sự thành công
    Rosemary trực tiếp đến gặp sếp của mình để xin lời khuyên,
    nhằm giúp bà có thể tăng doanh số bán hàng. Câu trả lời bà nhận
    được là: “Gõ cửa từng nhà một, nhưng chắc là cô không làm nổi việc
    này đâu”. Lúc đầu, Rosemary cũng cho rằng việc gõ cửa từng nhà quả
    thực là quá sức với mình. Nhưng khi đến bãi đậu xe, dòng máu tiên
    phong di truyền trong người bà chợt trỗi dậy. Bà muốn chứng minh
    rằng sếp đã đánh giá sai về bà. Rosemary đã chạy một mạch 70 bậc
    thang trở lại văn phòng của sếp để hỏi: “Tại sao bà lại nghĩ rằng tôi
    không thể bán hàng trực tiếp?”. Câu trả lời Rosemary nhận được là
    lời thách thức tìm hiểu về nghệ thuật bán hàng “gõ cửa từng nhà”.
    Trở về nhà, Rosemary gọi điện cho cha và hỏi ý kiến, ông bảo:
    “Con chỉ nên lưu tâm đến quan điểm của chính con. Đừng để bị dẫn
    dắt bởi quan điểm của người khác. Tổ tiên của con đã gõ cửa lục địa
    châu Úc này. Cha không thấy có lý do nào khiến con không đủ khả
    năng gõ cửa từng nhà để bán hàng cả”. Với sự khích lệ ấy, Rosemary
    đã phá vỡ các kỷ lục bán hàng của nước Úc và cả thế giới đối với sản

    phẩm Bách khoa toàn thư. Sau này, Rosemary nhận định rằng: “Để
    thành công, bạn phải để tâm trí không bị chi phối bởi những người có
    tư tưởng đầu hàng. Walt Disney thường đưa ý tưởng mới ra tham
    khảo bạn bè. Nếu có nhiều ý kiến phản đối, Disney lại theo đuổi ý
    tưởng đó đến cùng. Đôi khi những lời chê bai lại là động lực để bạn
    quyết tâm hơn đối với mục tiêu của mình”.
    Rosemary nói rằng trong lĩnh vực bán hàng, sự thành công phụ
    thuộc vào việc bạn biết “quên đi bản thân để giúp người khác đạt
    được mục tiêu”. Đồng thời, bạn cũng phải biết duy trì lòng quyết tâm
    bởi tinh thần quyết tâm sẽ giúp bạn cố gắng tiếp tục với mục tiêu
    ngay cả khi niềm khao khát tạm lắng xuống. Thế nhưng, chiến thắng
    không phải luôn là tất cả của mục tiêu và không nên đánh đổi chiến
    thắng với những giá trị sống như quan hệ giữa con người, danh tiếng
    của bản thân và của công ty mình đang gắn bó bởi theo Rosemary:
    “Nỗi đau về việc đánh mất những giá trị ấy sẽ tồn tại lâu hơn hương
    vị của chiến thắng”.
    Tìm kiếm sự cân bằng
    “Bí quyết của thành công là đạt được sự cân bằng. Sự thành công
    phải được bắt đầu, duy trì và kết thúc bằng một thái độ kích thích sự
    sáng tạo và hoạt động. Muốn thành công bạn phải có ước mơ, phải cụ
    thể hóa ước mơ ấy thành mục tiêu, rồi phải phấn đấu để theo đuổi
    những mục tiêu ấy. Bạn phải luôn nhìn về mục tiêu để tỉnh táo trước
    những trở ngại, thử thách. Và một khi đã đạt được mục tiêu thì bạn
    hãy chia sẻ kinh nghiệm với tất cả mọi người”. Rosemary đã làm
    được những điều này. Bà đã khích lệ rất nhiều người như John
    Smarts, giúp họ đứng dậy sau những lần thất bại và giúp họ gõ được
    cánh cửa của thành công.
    Bạn hãy nhớ lại xem đã có ai từng bảo rằng bạn khô...
     
    Gửi ý kiến

    Chẳng có người bạn nào thầm lặng và chung thủy như sách. Chẳng có cố vấn nào thông thái vượt bậc hơn sách. Sách là người thầy kiên nhẫn nhất cuộc đời con người chúng ta.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS THỦY CHÂU, THỊ XÃ HƯƠNG THỦY - TP. HUẾ!