Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Dám ước mơ - florence-littauer

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:05' 11-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:05' 11-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN 1. DÁM ƯỚC MƠ
PHẦN 2. CHUẨN BỊ CHO NHỮNG ƯỚC MƠ
PHẦN 3. THEO ĐUỔI ƯỚC MƠ
PHẦN 4. ĐIỀU CHỈNH ƯỚC MƠ
PHẦN 5. CHIA SẺ ƯỚC MƠ
LỜI GIỚI THIỆU
Rất nhiều người ngỡ rằng ước mơ là những gì xa xôi, ngoài tầm
tay với; là những viễn cảnh xa rời thực tại; là kết quả của sự thăng
hoa từ cảm xúc và trí tưởng tượng của những người có tâm hồn lãng
mạn. Thậm chí, có người còn cho rằng ước mơ chỉ là suy nghĩ viển
vông của những ai không có động lực phấn đấu, của những người
ngồi đung đưa trên chiếc xích đu ở cổng nhà mà cứ ngỡ mình đang
rong chơi cùng các vì sao, của những kẻ xem bói với hy vọng được
nghe những điều phán tốt lành cho tương lai, của những người sống
trong mộng ảo khi luôn phân tích và tin vào số phận của mình qua
những giấc mơ, hoặc của những người mua vé số và mòn mỏi đợi đến
ngày con số may mắn kia được xướng lên trong bản tin chiều...
Có vẻ như ước mơ không phải là bạn đồng hành thân thiết của
chúng ta, mà lại sánh đôi cùng sự Mơ Tưởng hoặc niềm May Mắn.
Liệu ước mơ có chút liên quan nào đến những con người trong thế
giới thực tại - những người không lãng mạn cùng các vì sao, mây trời;
không sống trong tháp ngà của những câu chuyện cổ tích; mà là
người luôn phải bôn ba với cuộc sống, nỗ lực tìm kiếm những điều rất
thực tế như sự vững chắc trong sự nghiệp, sự thành công trong kinh
doanh, niềm hạnh phúc với mái ấm gia đình?
Thật ra, ước mơ trong đời thực chính là những mục tiêu mà bạn
khao khát đạt được trong cuộc sống của mình. Tuy nhiên, vẫn có một
chút khác biệt giữa mục tiêu và ước mơ. Mục tiêu thường cụ thể và rõ
ràng. Mục tiêu có thể theo dõi và đánh giá. Mục tiêu có thể kiểm tra và
thẩm định quá trình tiến triển. Còn ước mơ sẽ làm tăng thêm cảm xúc
sáng tạo cho mục tiêu, mở rộng tầm nhìn cho những định hướng và
làm chúng ta thêm hy vọng ở tương lai. Ước mơ sẽ làm cho thực tế
cuộc sống thêm phần tốt đẹp và sinh động hơn.
Đó cũng là nội dung của cuốn sách Dám Ước Mơ của nữ tác giả
Florence Littauer. Cuốn sách được dẫn dắt xuyên suốt bằng câu
chuyện về cuộc đời và sự thành công của một phát thanh viên - em
trai tác giả. Hy vọng với cuốn sách này, những ai chưa từng ước mơ
sẽ nhanh chóng tìm thấy ước mơ của riêng mình; những ai đang nuôi
dưỡng ước mơ sẽ củng cố thêm quyết tâm để biến ước mơ trở thành
hiện thực; và những ai đã hoàn thành, đã chinh phục được ước mơ
của mình sẽ tiếp tục cuộc hành trình tìm kiếm một ước mơ mới.
- First News
LỜI MỞ ĐẦU
Người đi mua niềm tin
Như thường lệ, vào lúc 6 giờ sáng mỗi ngày, phát thanh viên Ron
Chapman xuất hiện trên đài phát thanh KVIL và bắt đầu chương trình
của mình bằng những câu chuyện hài hước trước khi điểm thông tin,
sự kiện trong ngày. Đã hơn 20 năm qua, thính giả ở thành phố Dallas
vẫn duy trì được thói quen thức dậy vào lúc 6 giờ, lắng nghe chương
trình buổi sáng với Ron Chapman để được khích lệ tinh thần và tìm
kiếm sự phấn khởi trước khi bắt đầu một ngày mới.
Nhưng buổi sáng ngày 31 tháng 3 năm 1988 thì khác hẳn. Một
chương trình phát thanh không giống bất cứ chương trình nào trước
đó. Ngay lời mở đầu, Ron đã nói với thính giả của mình rằng: “Tôi
muốn mọi người hãy gửi ngay cho tôi 20 đô-la!”. Chỉ một câu thông
báo ngắn gọn như thế. Không hứa hẹn! Không giải thích! Cũng không
lặp lại nhiều lần! Thoạt đầu, Ron nghĩ chỉ có một vài người gửi tiền,
nhưng chính anh cũng không ngờ rằng sáng hôm sau đã có 4.000 chi
phiếu và thêm 5.000 nữa vào ngày tiếp theo. Sang ngày thứ ba, anh
lên sóng phát thanh và nói với thính giả: “Tôi đã nhận được đủ rồi!
Xin các bạn đừng gửi thêm tiền cho tôi nữa. Chúng tôi thậm chí
không biết phải làm gì với số tiền này!”. Mặc dù đã thông báo như thế
nhưng nhiều người vẫn tiếp tục tìm mọi cách gửi tiền cho Ron. Một
số gửi đến địa chỉ nhà riêng của Ron, hoặc năn nỉ nhân viên bảo vệ
chuyển giúp số tiền này. Dường như có một sự thôi thúc khiến mọi
người cho đi 20 đô-la mà không cần biết lý do.
Không biết rõ lý do của Ron nhưng tận trong thâm tâm, những
người gửi tiền biết rằng nếu Ron Chapman yêu cầu gửi tiền, thì họ
muốn được là một phần trong dự án của anh. Chỉ trong vòng một
tuần, Ron đã nhận đến 12.156 chi phiếu với tổng giá trị gần một phần
tư triệu đô-la. Lúc đầu, Ron đã nghĩ sẽ trả lại tiền cho mọi người kèm
theo một món quà cảm ơn nào đó. Nhưng khi thấy số tiền nhận được
ngày càng nhiều, Ron bắt đầu cân nhắc đến các phương án sử dụng số
tiền quyên góp này.
Sự kiện này đã thu hút giới truyền thông đua nhau vào cuộc. Báo
chí và các trạm phát thanh từ khắp mọi miền đất nước bắt đầu liên hệ
để được trực tiếp gặp Ron. Điều mà tất cả mọi người đều muốn biết
là: “Từ đâu anh nghĩ ra ý tưởng này? Làm sao anh có đủ can đảm đề
nghị người khác gửi tiền cho mình mà không nêu bất kỳ lý do chính
đáng nào cả?”.
Ron kể lại rằng trong một cuộc họp với ban điều hành mới được
bổ nhiệm của đài phát thanh KVIL, anh đã trình bày cho họ nghe về
những thành tựu trong sự nghiệp trước đây của mình. Họ đã bật cười
khi nghe anh nói: “Chúng tôi đã xây dựng KVIL trở thành đài phát
thanh được yêu thích nhất tại thành phố Dallas này. Lòng tin mà mọi
người dành cho KVIL là rất lớn, đến mức nếu tôi lên sóng KVIL và đề
nghị mỗi thính giả gửi cho tôi 20 đô-la, tôi tin rằng nhất định mọi
người sẽ làm ngay”. Sự nghi ngờ của ban điều hành chính là thách
thức khiến Ron quyết tâm phải thực hiện buổi phát sóng đó, dẫn đến
sự kiện quyên góp tiền qua sóng phát thanh vào ngày 31 tháng 3 mà
mọi người đã biết.
Các đài phát thanh cạnh tranh không khỏi ngạc nhiên trước uy tín
của KVIL đối với thính giả. Làm thế nào mà KVIL có thể tạo ra tầm
ảnh hưởng sâu rộng đến thế? Giám đốc một trạm phát thanh đối thủ
đã phải thừa nhận: “Nếu việc quyên góp này nằm trong kế hoạch
quảng bá thì đây quả là một chương trình quảng bá tuyệt vời. Tôi
không chắc là mình sẽ gửi cho ai đó 20 đô-la mà không biết lý do cụ
thể. Trong suốt nhiều năm làm công việc phát thanh, tôi chưa từng
thấy trường hợp nào tương tự”.
Ngay cả những tờ báo và tạp chí ở nước ngoài cũng đăng những
bài viết đặc biệt về người phát thanh viên đã huy động được 240 ngàn
đô-la mà không cần nêu lý do. Thời báo Dallas Times Herald gọi Ron
là “Phát thanh viên hàng đầu ở Dallas, huyền thoại của ngành công
nghiệp phát thanh, người luôn đem đến niềm vui cho mọi người và
là ông vua của chương trình buổi sáng”.
Vậy Ron Chapman là ai và đã làm thế nào để đạt được ước mơ
của mình? Tôi sẽ kể cho các bạn nghe chi tiết câu chuyện về người
đàn ông này, bởi tôi là chị của Ron và là người luôn bên cạnh Ron
ngay từ khi em mới sinh ra.
Tôi vẫn còn nhớ mẹ tôi đã khóc khi sinh ra em: “Lại thêm một
miệng ăn nữa rồi!”. Lúc ấy không ai trong gia đình tôi nghĩ rằng sẽ có
một ngày, “cái miệng ăn” ấy có thể đem lại niềm vui cho hàng ngàn
người vào mỗi buổi sáng và còn có thể kiếm được nhiều tiền hơn mẹ
tôi từng ao ước. Ron đã đem đến những “điều kỳ diệu” không chỉ cho
cuộc sống của gia đình tôi, mà còn cho tất cả những ai có cơ duyên
được biết đến em.
- Florence Littauer
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
PHẦN 1. DÁM ƯỚC MƠ
“Tôi chân thành
vì còn nhiều người tin tưởng tôi.
Tôi trong sáng
vì còn nhiều người quan tâm đến tôi.
Tôi mạnh mẽ
vì còn nhiều điều cần phải chịu đựng.
Tôi can đảm
vì còn nhiều việc phải dám làm.”
- Howard Arnold Walter
CÂU CHUYỆN GIA ĐÌNH
Ký ức đưa tôi quay trở lại thời điểm năm 1935 tại thành phố
Newton, bang Massachusetts. Đó là thời kỳ đất nước đang xảy ra tình
trạng suy thoái kinh tế nên cũng như tất cả mọi người, gia đình chúng
tôi phải đối mặt với vô vàn khó khăn. Nhà máy nơi cha tôi làm việc
hơn 30 năm buộc phải đóng cửa khiến nguồn thu nhập chính của gia
đình bị cắt đứt hẳn. Kiếm được một việc làm mới vào lúc đó không
phải là chuyện dễ dàng, nhất là đối với một người đàn ông 57 tuổi
chưa tốt nghiệp trung học như cha tôi. Bỗng chốc cha tôi phát hiện ra
mình – một Walter Chapman không việc làm, không tiền bạc và
không cả mơ ước! Tất cả những gì ông có lúc ấy là tôi, đứa con gái bé
bỏng 7 tuổi, em trai tôi - James 4 tuổi, và người vợ nhỏ hơn ông gần
20 tuổi đang mang thai.
Tôi vẫn còn nhớ vào đêm trước lễ Giáng sinh khi tôi đã lên
giường chuẩn bị đi ngủ thì nghe chuông cửa vang lên. Hiếm có ai đến
thăm tổ ấm bé xíu của chúng tôi vào giờ này nên tôi bật ngay dậy để
xem đó là ai.
“Ồ! Dorothy!”, giọng mẹ tôi đầy ngạc nhiên. Tôi nhìn qua khe cửa
để xem Dorothy là ai và nhìn thấy một người phụ nữ đã đứng tuổi với
cách ăn mặc và phục sức rất sang trọng. Tôi thầm nghĩ người này
chắc hẳn phải rất giàu có.
“Katie, tôi không biết phải bắt đầu câu chuyện như thế nào”, bà ta
nói. “Chị biết đấy, hai vợ chồng tôi không thể có con nên rất mong
mỏi có được một đứa con nuôi. Chúng tôi có đầy đủ điều kiện để đảm
bảo cuộc sống tốt nhất cho một đứa trẻ. Tôi biết chị và Chappie nuôi
hai đứa lớn cũng khá vất vả nên xin chị cho phép chúng tôi nhận nuôi
đứa nhỏ sắp sinh.”
Bà ta muốn bắt em bé của tôi ư? Không thể được! Tôi cảm thấy
như nghẹt thở nhưng vẫn cố đứng nép sát cánh cửa phòng ngủ để
theo dõi câu chuyện.
“Katie, chị vẫn có thể đến thăm nó thường xuyên.”
Đến thăm ư? Tại sao bà ta không đến thăm em bé mà lại là mẹ tôi!
Bố mẹ đã đặt nôi em bé cạnh giường tôi rồi. Tôi bật khóc khi nhìn cái
nôi trống không. Tôi rất yêu em James, thích được chơi đùa với em,
thích chải những lọn tóc vàng của em, cho em mặc đồ cũ của tôi và giả
vờ xem em như là bé gái. Tôi đã sẵn sàng đón thêm một đứa em nữa,
vậy mà người phụ nữ này muốn đưa em tôi đi ngay cả trước khi tôi có
thể bế em trong tay.
“Chị nói đúng! Có thể chúng tôi không đủ điều kiện để nuôi cháu”.
Tôi nghe tiếng mẹ cương quyết. “Nhưng nếu Chúa đã cho chúng tôi có
đứa con này thì hẳn Người sẽ có cách giúp chúng tôi nuôi được nó.”
Hai người còn nói chuyện thêm một lúc nữa rồi bà Dorothy ra về.
Trước khi bước ra cửa, bà vẫn còn nuôi hy vọng khi quay lại dặn mẹ
tôi: “Katie, khi nào chị thay đổi ý định, hãy cho tôi biết nhé! Tôi có thể
đến đón cháu bất kỳ lúc nào”.
Bất kỳ lúc nào ư? Tôi nghĩ bụng: “Từ bây giờ mình phải để ý đến
việc này thôi!”.
Buổi sáng ngày 25 tháng 1 năm 1936, mẹ tôi dịu dàng ôm tôi và
James vào lòng và cho biết rằng mẹ sắp vào bệnh viện sinh em bé. Tôi
nhớ mình đã ôm hôn tạm biệt mẹ và hứa với mẹ rằng sẽ ở nhà ngoan
- lời hứa mà tôi luôn bị bắt buộc phải nói mỗi khi chia tay. Tôi mong
có một đứa em gái vì tôi đã có em trai rồi nhưng mẹ tôi lại cho ra đời
một bé trai. Khi nghe bố thông báo tin đó, tôi tự hỏi không biết mẹ có
cho em bé làm con nuôi không bởi vì tôi biết mẹ cũng thích con gái.
Tôi quyết định là mình phải chăm sóc em bé thật tốt và nếu bà
Dorothy có trở lại thì tôi sẽ giấu em đi ngay.
Khi bố mẹ đưa em bé về nhà, tôi nhìn em và cảm thấy yêu em
ngay tức thì. Tôi ngồi cạnh nôi em hàng giờ và đọc cho em nghe
những câu chuyện mà em không thể nào hiểu được. Tôi còn làm thơ
về em gửi đến tạp chí Wee Wisdom. Tác phẩm đầu tiên của tôi – bài
thơ Em bé của tôi đã được đăng trên số báo xuất bản vào tháng 4
năm 1936. Có thể bây giờ, bài thơ này không tạo ấn tượng gì đặc biệt,
nhưng vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, tạp chí Wee Wisdom
đã tìm lại bài thơ Em bé của tôi và cho in lại.
Khi em bé được vài ngày tuổi, bố mẹ bắt đầu bàn bạc về việc đặt
tên cho em. Tôi được đặt theo tên của bà nội và bà ngoại là Florence
và Marcia. James thì được mang tên của ông ngoại và có tên lót là
Walter, trùng với tên của bố tôi. Rõ ràng là trong hai lần đặt tên
trước, mẹ đã thuyết phục được bố tôi nên lần này bố tỏ thái độ cương
quyết: “Anh muốn được đặt tên con theo tên hai người bạn thân nhất
của anh là Ralph và Fred”. Thế là em tôi có tên thánh là Ralph
Frederick Chapman. Cả hai chú Ralph và Fred đều không có con nên
họ đã rất xúc động khi biết bố tôi lấy tên của họ đặt cho con mình. Vài
tháng sau đó, với sự hỗ trợ tài chính của hai người bạn này, bố tôi đã
mua được cửa hàng Riverside Variety ở Haverhill, Massachusetts và
chuyển cả gia đình về đó.
Nơi chúng tôi dọn đến là một căn nhà màu nâu tồi tàn bên ngoài
dán đầy những hình trang trí màu vàng, phía sân sau có hai xưởng
sửa xe. Bên trong căn nhà là một cửa hiệu chất đầy kẹo và bánh. Nơi
này đã trở thành phòng khách, phòng ăn và phòng sinh hoạt của cả
gia đình chúng tôi. Sau cửa hàng có một gian bếp nhỏ; một phòng ngủ
bé xíu cho cả năm con người và thêm một khoảng không gian trống
chỉ đủ để kê một chiếc ghế trường kỷ và cây đàn piano.
Cửa hiệu nhỏ đến nỗi nếu chúng tôi nói chuyện ở phòng trong thì
khách hàng đứng bên ngoài vẫn có thể nghe được rất rõ. Đã vậy mà cả
nhà tôi đều có giọng nói to, thế nên bố tôi quy ước rằng nếu chúng tôi
đang nói về ai mà người đó bước vào cửa hàng thì ông sẽ báo hiệu
bằng cách hát “Holy, Holy, Holy”. Quy ước này ăn sâu trong ký ức tôi
đến mức giờ đây mỗi khi tôi đang nói mà bất chợt nghe lại giai điệu
này thì dù ở bất cứ nơi nào, tôi cũng khựng lại ngay theo một phản xạ
hết sức tự nhiên.
Cuộc sống ở cửa hàng mới tỏ ra là một thế giới đầy hấp dẫn đối
với Ralph vì ngày nào Ralph cũng có một số khán giả nhất định. Ngay
từ khi biết nói một câu hoàn chỉnh, cậu bé đã thể hiện năng khiếu hài
hước tuyệt vời và có ý niệm chính xác về thời gian. Ralph tiếp thu
nhanh chóng những gì tôi dạy và có khả năng lặp lại những mẫu
quảng cáo trên tivi một cách chuẩn xác với một giọng điệu hết sức
ngộ nghĩnh khiến nhiều người sẵn sàng bỏ tiền ra để nghe cậu bé nói.
Những khi cửa hàng vắng khách, tôi dẫn Ralph xuống xưởng sửa xe
chơi, và những người thợ sửa xe cũng cho tiền để được nghe cậu bé
đọc thơ.
Nhưng khi đến tuổi đi học, sự hài hước của Ralph đã gây ra
không ít phiền toái. Không phải giáo viên nào cũng thích tính hài
hước đôi khi quá mức của cậu bé. Thậm chí một số thầy cô đã phải
thất vọng thốt lên: “Sao em chẳng thông minh giống anh chị của em
chút nào vậy!”. Mẹ tôi cũng rất sợ phải nghe lời phê bình của các thầy
cô giáo về Ralph nên tôi phải đi thay mẹ trong các cuộc họp phụ
huynh lớp em. Và khi về thuật lại cho mẹ nghe, tôi thường giấu bớt đi
những trò nghịch ngợm của Ralph.
Khi Ralph vào trung học, mẹ tôi đã phải nhiều lần giúp em làm
các bài luận văn chương. Môn tiếng La-tinh và môn đại số cũng là
một cực hình không kém đối với Ralph. Tôi vẫn còn nhớ lần em đang
cố gắng giải bài toán yêu cầu tính tỷ lệ tấn cà phê Colombia với cà phê
Braxin trong hỗn hợp. Ralph đã nhìn mẹ và nói: “Cách duy nhất để
con có thể làm được bài toán này là gọi điện đặt hai tấn cà phê, đổ tất
cả trước cửa hàng, trộn chúng lại rồi chúng ta sẽ mang thìa to ra đong
đếm”. Lần đó, mẹ tôi, người mẹ mà trong đầu không có ý niệm gì về
sự khôi hài, cũng không nhịn được cười.
Em tôi dành hầu hết thời gian của mình để nghe đài phát thanh
và học lời những bài hát đang thịnh hành lúc đó. Ralph để dành tiền
mua đĩa của Spike Jones. Chẳng bao lâu sau em đã có thể hát được tất
cả các bài hát của Spike và trở thành một diễn viên được yêu thích ở
những buổi biểu diễn địa phương. Chị em tôi cùng nhau dành dụm
tiền mua một cái máy ghi âm cũ và Ralph bắt đầu thu đĩa nhạc cho
riêng mình. Ralph nhờ một người bạn đệm đàn piano để ghi âm bài
hát Mule Train và mang đĩa đến đài phát thanh địa phương WHAV
với hy vọng được phát bài hát của mình. Lúc đó chúng tôi không dám
tin rằng đài phát thanh này lại có thể đồng ý phát một đĩa hát được
sản xuất tại nhà và làm cho đĩa hát ấy nổi tiếng cả. Thế nhưng hy vọng
của Ralph đã trở thành hiện thực.
Lúc Ralph học trung học thì tôi trở thành giáo viên và dạy học tại
trường của em. Mỗi ngày, chúng tôi vẫn cùng nhau đến trường và trở
về nhà. Tôi vẫn luôn quan tâm đến Ralph như một người mẹ, người
chị và cả cô giáo của em. Tôi vẫn thường chia sẻ tất cả những kinh
nghiệm và kiến thức tôi học được với Ralph. Hai chị em chúng tôi
được xem như là một đôi khắng khít và thường được mời tham gia
các buổi tiệc. Sự hiện diện của chúng tôi làm cho không khí buổi tiệc
trở nên sinh động hơn. Chúng tôi luôn cập nhật tin tức về tình hình
thế giới và chuẩn bị sẵn một số ý tưởng cho các đề tài thời sự nóng
hổi. Rồi chúng tôi đợi cho đến khi có ai đó nêu các đề tài này ra và bắt
đầu thảo luận. Sự “bộc phát đã được chuẩn bị trước” này khiến chúng
tôi trở thành linh hồn của mọi cuộc vui.
Có lẽ điều duy nhất Ralph tỏ ra thích thú ở trường học là các ban
nhạc và dàn đồng ca. Em học thổi kèn trumpet và học luyện giọng.
Năng khiếu bẩm sinh đã giúp em trở thành học sinh xuất sắc trong cả
hai lĩnh vực này. Nhưng Ralph vẫn không thôi những trò nghịch
ngợm. Khi ban nhạc không hoạt động thì tất cả nhạc cụ được cất giữ
trong một nhà kho có khóa và hàng rào chăng dây xích xung quanh.
Kho nhạc cụ nằm gần nơi tôi dạy học và Ralph được giao chìa khóa
kho. Khi thấy không có ai ở gần đấy, em liền mở cửa và xếp chiếc kèn
tuba sao cho miệng kèn thò ra ngoài lỗ hàng rào. Lúc giờ học bắt đầu,
em đến gần kho và vỗ thật mạnh vào miệng kèn. Khi giáo viên trong
trường nghe tiếng kèn và chạy đến tìm kẻ phá phách thì chỉ thấy cái
kho nhạc cụ vắng lặng và vẫn được khóa kín. Không ai hiểu được tại
sao cái kèn lại có thể tự kêu trong cái kho khóa kín đó. Hội đồng giáo
viên của trường đã họp lại và thống nhất giao cho một thầy giáo
nhiệm vụ gác cửa kho nhạc cụ suốt ngày. Thế nhưng tiếng kèn ấy vẫn
phát ra. Sau nhiều lần tìm kiếm thủ phạm không thành công, người
thầy giáo ấy buộc phải từ chối công việc này.
Trò tiếp theo của Ralph là biến lớp học đánh chữ thành một ban
nhạc. Trước khi bắt đầu giờ học, Ralph thông báo cho các học viên
mới đánh máy bài hát mà Ralph đã chọn. Khi giáo viên vào lớp và
giao bài tập đánh máy cho cả lớp thì mọi cặp mắt đều quay về phía
Ralph. Khi Ralph gật đầu làm hiệu, cả lớp liền đánh máy lời bài hát
đã chọn. Alexander's Ragtime Band là bài đánh máy được yêu thích
vì cứ hết mỗi dòng là chuông lại reo, còn Jingle Bells là bài hát được
ưa chuộng nhất vào dịp Giáng sinh. Để em không bị đánh rớt trong
môn học này, tôi đã phải hứa với giáo viên của lớp rằng Ralph sẽ
dừng việc đánh máy các bản nhạc và rằng tôi sẽ không bao giờ cho
phép em thực hiện các bài tập đánh máy nếu không có sự đồng ý của
thầy giáo.
Không thể không nhắc đến phong trào trồng vườn cũng vào thời
trung học của Ralph. Những học sinh tham gia trồng vườn vào mỗi
mùa hè sẽ nhận được 1/4 điểm thành tích hoạt động. Để có được 1/4
điểm này, mỗi học sinh phải trồng một vườn cây riêng, phải ghi chú
chi tiết thời gian gieo hạt, thu hoạch và nộp báo cáo vào thời điểm
khai giảng năm học mới cùng với một mẫu sản phẩm. Ralph đã đăng
ký phong trào này để có thêm điểm số cho kỳ tốt nghiệp cuối khóa.
Thế nhưng, suốt cả ba mùa hè, em chẳng trồng được cây nào cả. Mỗi
năm học mới bắt đầu, tôi và em đã phải chạy đến vườn cây nhà bà Lil
và mua tất cả những gì có trong vườn. Sau đó tôi lại viết giúp em một
bản báo cáo về thời gian gieo hạt, nảy mầm và phát triển rồi đính kèm
vào giỏ sản phẩm em mang nộp cho thầy giáo. Nếu không có 1/4 số
điểm làm vườn thì chắc hẳn Ralph khó mà tốt nghiệp trung học được.
Ngày lễ tốt nghiệp, lúc ngồi trên hàng ghế dành cho phụ huynh, mẹ
tôi đã thì thầm: “Lẽ ra hai mẹ con mình mới là người được nhận bằng
tốt nghiệp hôm nay. Chúng ta đã làm gần hết mọi việc cho Ralph còn
gì!”.
Phải, mẹ và tôi đã làm phần lớn mọi việc, nhưng Ralph lại là
người có khả năng thuyết phục chúng tôi làm những việc ấy. Lúc ấy,
hai mẹ con tôi không hề nghĩ rằng sẽ có ngày Ralph thành công như
ngày nay vì mẹ tôi vẫn luôn lo sợ: “Nếu sau này nó vẫn không nghiêm
túc và thực sự làm việc thì có lẽ cuộc đời nó sẽ chẳng đi đến đâu được
cả”.
Đến khi trở thành sinh viên đại học, Ralph đã cộng tác với WHAV
trong việc đọc tin tức và thực hiện những buổi phát sóng quảng cáo
sản phẩm trực tiếp. Ralph còn được đặc cách thực hiện chương trình
riêng dài mười lăm phút của mình hai lần một tuần.
Mỗi buổi sáng, em mở radio để nghe chương trình Carl de Suez
của đài Boston's WBZ-AM. Carl là một nhân vật nổi tiếng và được yêu
thích ở nước Anh. Ralph nhanh chóng học theo và chẳng bao lâu em
đã có thể hát được tất cả các bài hát của Carl phát trên sóng. Ralph
ngưỡng mộ Carl vì: “Anh ấy là nguồn động lực để em thức dậy sớm
mỗi ngày. Với anh ấy, dường như buổi sáng nào cũng là một khởi đầu
tuyệt vời cho một ngày mới. Carl làm em cảm thấy thoải mái và phấn
khích khi làm việc”.
Từ đó, Ralph đã thức dậy sớm để được nghe chương trình của
Carl, để bắt đầu một ngày mới đầy sức sống và để cảm nhận ý nghĩa
của cuộc sống. Và với khả năng âm nhạc xuất chúng, với suy nghĩ
nhạy bén và khiếu khôi hài đặc biệt, em đã làm được nhiều điều mà
không ai trong gia đình chúng tôi từng nghĩ đến.
KHỞI NGUỒN CỦA ƯỚC MƠ
Không phải lúc nào chúng ta cũng gặp được những môi trường
tốt để ươm mầm và nuôi dưỡng ước mơ. Đôi khi ước mơ bị chi phối
bởi những định kiến và nỗi ám ảnh trong quá khứ. Một số người tin
rằng mình sẽ chẳng bao giờ làm được điều gì lớn lao cả bởi bố mẹ
thường xuyên nhận xét về họ như thế. Một số khác lại bị mặc cảm bởi
sự không hoàn thiện về trình độ học vấn hay khiếm khuyết của bản
thân nên tự cho rằng mình không đủ tố chất để thành công. Một vài
người tuy đạt được mục tiêu đề ra và kiếm được nhiều tiền, nhưng
tận sâu thẳm trong lòng vẫn cảm thấy chưa bằng lòng với chính mình.
Chắc hẳn bất kỳ ai trong chúng ta cũng đã nhiều lần tự hỏi “Thực sự
tôi là ai và có vị trí nào trong cuộc sống này?”, nhưng không phải ai
cũng tìm được câu trả lời rõ ràng và thỏa mãn.
Vì vậy, từ bây giờ chúng ta hãy mạnh dạn bước ra khỏi lối mòn
của những nhận định và định kiến trước đây để bắt đầu một chặng
đường mới phía trước. Xuất phát điểm cho tất cả những điều tốt đẹp
trong tương lai là dám ước mơ. Đúng thế, nghỉ ngơi bao giờ cũng
thoải mái hơn là cố gắng, từ bỏ bao giờ cũng dễ dàng hơn là giữ chặt.
Nhưng nếu chúng ta mãi thụ động ngồi chờ đến khi con đường thành
công hoàn toàn mở ra trước mặt thì có lẽ cả cuộc đời này chúng ta sẽ
mãi ngồi trên chiếc xích đu trước cổng nhà. Bạn hãy hình dung mình
đang đứng trên boong một chiếc tàu, ngắm đại dương bao la và trời
xanh đầy nắng trong một tâm thế hoàn toàn tự do. Bạn có thể cảm
nhận được mùi hương ngọt ngào của đóa hoa thành công, nhưng nếu
muốn hái được chúng thì bạn phải rời vị trí và phải chịu đựng đau
đớn bởi những chiếc gai nhọn của nó. Do đó, một số người thà ngồi
tại chỗ để được thong dong chứ không muốn đứng dậy và di chuyển.
Một số khác lại bằng lòng với những điều tương đối hơn là phải gắng
sức để gặt hái những điều tốt nhất. Họ muốn ở vị trí an toàn hơn là
mạo hiểm với ước mơ. Thậm chí một số người cho rằng không cần
phải ước mơ vì số phận đã sắp đặt mọi thứ.
Quyển sách này sẽ không hướng dẫn bạn cách đạt được thành
công về mặt tài chính mà chỉ khuyến khích bạn hãy đứng dậy và rời
khỏi chiếc xích đu trước cổng nhà. Bất kể bạn là ai, có tính cách ra
sao, xuất thân và địa vị xã hội như thế nào, bạn đều có thể tìm thấy
hình ảnh của chính mình trong những câu chuyện cuộc đời này.
Đừng ngồi trên chiếc xích đu lâu hơn nữa! Đừng nhét ước mơ
của bạn vào trong gối và ngủ quên! Đừng lưỡng lự, do dự chỉ vì sự trì
trệ và thiếu quyết đoán! Tôi muốn khích lệ bạn hãy mạnh dạn bước ra
khỏi cổng nhà. Hãy tiếp tục đi tới và tiến thẳng đến vạch xuất phát!
TIẾN ĐẾN VẠCH XUẤT PHÁT
Ước mơ hướng bạn đến với những điều mới mẻ và khác biệt so
với thực tại. Ước mơ giúp bạn nuôi dưỡng khát vọng vượt lên những
điều bình thường. Ước mơ mang đến cho bạn niềm vui sáng tạo và
nhiều điều thú vị trong cuộc sống. Nhưng trên hết, bạn phải là người
quyết định ước mơ của mình. Hãy thay đổi thói quen sống phụ thuộc
vào những chỉ dẫn, lời khuyên của người khác để tự xác định ước mơ
riêng cho cuộc đời bạn.
Tôi biết có rất nhiều người một ngày nào đó chợt tỉnh dậy với
ngọn lửa khát vọng bừng cháy trong tim. Ngay lập tức, họ nhận ra
ước mơ đích thực của mình và quyết tâm thực hiện đến cùng để trở
thành những con người thành công và nổi tiếng. Còn bạn thì sao, có
ngọn lửa khát vọng nào đang bừng cháy trong tim? Bạn có cảm thấy
lòng nhiệt huyết của mình đang tuôn trào nóng bỏng khi nghĩ đến
những ước mơ? Đã đến lúc bạn phải đánh thức khát vọng sống và
những ước mơ có lẽ vốn đã ngủ quên từ lâu trong tâm hồn bạn.
Nhưng đâu là điểm bắt đầu? Ước mơ có thể được nhận diện bằng
cách nào?
TỪ CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI XUNG QUANH
Trong quá trình trưởng thành và tự hoàn thiện bản thân, tôi đã
không ngừng tiếp nhận nhiều điều tốt đẹp bằng cách đọc sách hay
trực tiếp trò chuyện với những người xung quanh. Mỗi người là một
thế giới riêng về công việc, cách suy nghĩ, thái độ sống khác nhau
nhưng tôi nhận thấy rằng chỉ cần bạn biết lắng nghe và đặt câu hỏi
đúng lúc, bạn sẽ khám phá ra được nhiều điều giá trị cho chính mình.
Chấp nhận thử thách
Ngay trong lần đầu tiên trò chuyện với John Smart - giám đốc
kinh doanh một công ty thực phẩm Úc, tôi đã đánh giá cao năng lực
của anh. John thu hút người đối diện bằng đôi mắt biểu cảm, ánh
nhìn thân thiện và cách nói chuyện cuốn hút. Anh lớn lên trong định
kiến của mọi người rằng anh sẽ không bao giờ thành công. Sau một
lần kinh doanh thất bại khiến anh rơi vào tình trạng tuyệt vọng, anh
gặp được một người phụ nữ quan trọng – người không chỉ giúp anh
trở thành người bán hàng giỏi nhất nước Úc mà còn giúp anh trở nên
tự tin hơn về bản thân mình. John khiến tôi tò mò muốn tìm hiểu về
người phụ nữ đặc biệt đã làm thay đổi cuộc đời anh và những bí
quyết mà bà đã giúp anh từ vực thẳm của nản chí và tuyệt vọng lên
đến đỉnh cao của thành công và vinh quang. Và John đã xúc động kể
cho tôi nghe về Rosemary Moore, người phụ nữ không bao giờ chấp
nhận câu trả lời “không”.
Không chấp nhận câu trả lời “KHÔNG”
Rosemary là người Úc thuộc thế hệ thứ sáu của những người đầu
tiên di cư đến Úc. Samuel Pratt Winter, tổ tiên bên nội của bà, từ năm
14 tuổi đã rời bỏ Ireland sang Úc, lập nghiệp ở thung lũng gần ranh
giới giữa Portland và Wannon River, bang Victoria. Samuel Winter
Cooke, cháu trai của ông, là một trong những thành viên Quốc hội Úc
từ những ngày mới thành lập. Tổ tiên bên ngoại của Rosemary là
người Scotland di cư đến bang New South Wales, trong số đó có John
Robertson - về sau trở thành thống đốc bang New South Wales.
Rosemary là con cháu của những người đã dám ước mơ và đã thành
công, những người không nản chí khi nghe người khác ngăn cản:
“Ước mơ đó không thể thực hiện được”. Rosemary đã thừa hưởng
tính cách mạnh mẽ không sợ thất bại ấy từ truyền thống gia đình của
mình.
Ở tuổi 40, Rosemary chưa cảm thấy thật sự hài lòng với cuộc
sống của bản thân. Bà mong muốn được làm một điều gì đó thật khác
biệt cho cuộc đời còn lại. Khi thấy một mẩu quảng cáo tuyển dụng
giáo viên đăng trên báo, bà liền gọi điện đến để ứng tuyển. Nhưng
thực ra đây lại là mẩu quảng cáo tuyển nhân viên bán từ điển bách
khoa nên bà không mấy quan tâm. Mọi việc sẽ rơi vào quên lãng nếu
Michael, chồng bà, không nói rằng đây là một việc vượt quá khả năng
của bà và khuyên bà không nên cố thử sức. Tưởng chừng câu nói này
sẽ làm Rosemary nản lòng nhưng thực ra đây lại chính là điều mà
Rosemary, với cá tính nổi loạn di truyền của gia đình, đang rất cần
được nghe. Bà cảm thấy mình đang bị “thách thức” và đã trả lời
chồng: “Nhưng em vẫn muốn được làm thử!”.
Khách hàng đầu tiên của Rosemary là những người bạn của bà,
những người đã mua từ điển mà không cần nghe bất kỳ lời quảng cáo
nào. Việc này cứ tiếp diễn cho đến một hôm, một người bạn của bà
bất ngờ nói: “Nếu bạn không thuyết phục được mình rằng đây là một
quyển từ điển hữu dụng thì rất tiếc, mình sẽ không mua nó đâu”. Điều
này đặt Rosemary vào thế phải làm việc thực sự và bà đã bắt đầu dùng
lý lẽ để thuyết phục khách hàng mua sản phẩm. Khả năng kinh doanh
của bà đã được mọi người công nhận khi doanh số bán hàng ngày
càng tăng cao. Điều này càng khiến bà thêm tự tin vào bản thân mình.
Giá trị của sự thành công
Rosemary trực tiếp đến gặp sếp của mình để xin lời khuyên,
nhằm giúp bà có thể tăng doanh số bán hàng. Câu trả lời bà nhận
được là: “Gõ cửa từng nhà một, nhưng chắc là cô không làm nổi việc
này đâu”. Lúc đầu, Rosemary cũng cho rằng việc gõ cửa từng nhà quả
thực là quá sức với mình. Nhưng khi đến bãi đậu xe, dòng máu tiên
phong di truyền trong người bà chợt trỗi dậy. Bà muốn chứng minh
rằng sếp đã đánh giá sai về bà. Rosemary đã chạy một mạch 70 bậc
thang trở lại văn phòng của sếp để hỏi: “Tại sao bà lại nghĩ rằng tôi
không thể bán hàng trực tiếp?”. Câu trả lời Rosemary nhận được là
lời thách thức tìm hiểu về nghệ thuật bán hàng “gõ cửa từng nhà”.
Trở về nhà, Rosemary gọi điện cho cha và hỏi ý kiến, ông bảo:
“Con chỉ nên lưu tâm đến quan điểm của chính con. Đừng để bị dẫn
dắt bởi quan điểm của người khác. Tổ tiên của con đã gõ cửa lục địa
châu Úc này. Cha không thấy có lý do nào khiến con không đủ khả
năng gõ cửa từng nhà để bán hàng cả”. Với sự khích lệ ấy, Rosemary
đã phá vỡ các kỷ lục bán hàng của nước Úc và cả thế giới đối với sản
phẩm Bách khoa toàn thư. Sau này, Rosemary nhận định rằng: “Để
thành công, bạn phải để tâm trí không bị chi phối bởi những người có
tư tưởng đầu hàng. Walt Disney thường đưa ý tưởng mới ra tham
khảo bạn bè. Nếu có nhiều ý kiến phản đối, Disney lại theo đuổi ý
tưởng đó đến cùng. Đôi khi những lời chê bai lại là động lực để bạn
quyết tâm hơn đối với mục tiêu của mình”.
Rosemary nói rằng trong lĩnh vực bán hàng, sự thành công phụ
thuộc vào việc bạn biết “quên đi bản thân để giúp người khác đạt
được mục tiêu”. Đồng thời, bạn cũng phải biết duy trì lòng quyết tâm
bởi tinh thần quyết tâm sẽ giúp bạn cố gắng tiếp tục với mục tiêu
ngay cả khi niềm khao khát tạm lắng xuống. Thế nhưng, chiến thắng
không phải luôn là tất cả của mục tiêu và không nên đánh đổi chiến
thắng với những giá trị sống như quan hệ giữa con người, danh tiếng
của bản thân và của công ty mình đang gắn bó bởi theo Rosemary:
“Nỗi đau về việc đánh mất những giá trị ấy sẽ tồn tại lâu hơn hương
vị của chiến thắng”.
Tìm kiếm sự cân bằng
“Bí quyết của thành công là đạt được sự cân bằng. Sự thành công
phải được bắt đầu, duy trì và kết thúc bằng một thái độ kích thích sự
sáng tạo và hoạt động. Muốn thành công bạn phải có ước mơ, phải cụ
thể hóa ước mơ ấy thành mục tiêu, rồi phải phấn đấu để theo đuổi
những mục tiêu ấy. Bạn phải luôn nhìn về mục tiêu để tỉnh táo trước
những trở ngại, thử thách. Và một khi đã đạt được mục tiêu thì bạn
hãy chia sẻ kinh nghiệm với tất cả mọi người”. Rosemary đã làm
được những điều này. Bà đã khích lệ rất nhiều người như John
Smarts, giúp họ đứng dậy sau những lần thất bại và giúp họ gõ được
cánh cửa của thành công.
Bạn hãy nhớ lại xem đã có ai từng bảo rằng bạn khô...
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN 1. DÁM ƯỚC MƠ
PHẦN 2. CHUẨN BỊ CHO NHỮNG ƯỚC MƠ
PHẦN 3. THEO ĐUỔI ƯỚC MƠ
PHẦN 4. ĐIỀU CHỈNH ƯỚC MƠ
PHẦN 5. CHIA SẺ ƯỚC MƠ
LỜI GIỚI THIỆU
Rất nhiều người ngỡ rằng ước mơ là những gì xa xôi, ngoài tầm
tay với; là những viễn cảnh xa rời thực tại; là kết quả của sự thăng
hoa từ cảm xúc và trí tưởng tượng của những người có tâm hồn lãng
mạn. Thậm chí, có người còn cho rằng ước mơ chỉ là suy nghĩ viển
vông của những ai không có động lực phấn đấu, của những người
ngồi đung đưa trên chiếc xích đu ở cổng nhà mà cứ ngỡ mình đang
rong chơi cùng các vì sao, của những kẻ xem bói với hy vọng được
nghe những điều phán tốt lành cho tương lai, của những người sống
trong mộng ảo khi luôn phân tích và tin vào số phận của mình qua
những giấc mơ, hoặc của những người mua vé số và mòn mỏi đợi đến
ngày con số may mắn kia được xướng lên trong bản tin chiều...
Có vẻ như ước mơ không phải là bạn đồng hành thân thiết của
chúng ta, mà lại sánh đôi cùng sự Mơ Tưởng hoặc niềm May Mắn.
Liệu ước mơ có chút liên quan nào đến những con người trong thế
giới thực tại - những người không lãng mạn cùng các vì sao, mây trời;
không sống trong tháp ngà của những câu chuyện cổ tích; mà là
người luôn phải bôn ba với cuộc sống, nỗ lực tìm kiếm những điều rất
thực tế như sự vững chắc trong sự nghiệp, sự thành công trong kinh
doanh, niềm hạnh phúc với mái ấm gia đình?
Thật ra, ước mơ trong đời thực chính là những mục tiêu mà bạn
khao khát đạt được trong cuộc sống của mình. Tuy nhiên, vẫn có một
chút khác biệt giữa mục tiêu và ước mơ. Mục tiêu thường cụ thể và rõ
ràng. Mục tiêu có thể theo dõi và đánh giá. Mục tiêu có thể kiểm tra và
thẩm định quá trình tiến triển. Còn ước mơ sẽ làm tăng thêm cảm xúc
sáng tạo cho mục tiêu, mở rộng tầm nhìn cho những định hướng và
làm chúng ta thêm hy vọng ở tương lai. Ước mơ sẽ làm cho thực tế
cuộc sống thêm phần tốt đẹp và sinh động hơn.
Đó cũng là nội dung của cuốn sách Dám Ước Mơ của nữ tác giả
Florence Littauer. Cuốn sách được dẫn dắt xuyên suốt bằng câu
chuyện về cuộc đời và sự thành công của một phát thanh viên - em
trai tác giả. Hy vọng với cuốn sách này, những ai chưa từng ước mơ
sẽ nhanh chóng tìm thấy ước mơ của riêng mình; những ai đang nuôi
dưỡng ước mơ sẽ củng cố thêm quyết tâm để biến ước mơ trở thành
hiện thực; và những ai đã hoàn thành, đã chinh phục được ước mơ
của mình sẽ tiếp tục cuộc hành trình tìm kiếm một ước mơ mới.
- First News
LỜI MỞ ĐẦU
Người đi mua niềm tin
Như thường lệ, vào lúc 6 giờ sáng mỗi ngày, phát thanh viên Ron
Chapman xuất hiện trên đài phát thanh KVIL và bắt đầu chương trình
của mình bằng những câu chuyện hài hước trước khi điểm thông tin,
sự kiện trong ngày. Đã hơn 20 năm qua, thính giả ở thành phố Dallas
vẫn duy trì được thói quen thức dậy vào lúc 6 giờ, lắng nghe chương
trình buổi sáng với Ron Chapman để được khích lệ tinh thần và tìm
kiếm sự phấn khởi trước khi bắt đầu một ngày mới.
Nhưng buổi sáng ngày 31 tháng 3 năm 1988 thì khác hẳn. Một
chương trình phát thanh không giống bất cứ chương trình nào trước
đó. Ngay lời mở đầu, Ron đã nói với thính giả của mình rằng: “Tôi
muốn mọi người hãy gửi ngay cho tôi 20 đô-la!”. Chỉ một câu thông
báo ngắn gọn như thế. Không hứa hẹn! Không giải thích! Cũng không
lặp lại nhiều lần! Thoạt đầu, Ron nghĩ chỉ có một vài người gửi tiền,
nhưng chính anh cũng không ngờ rằng sáng hôm sau đã có 4.000 chi
phiếu và thêm 5.000 nữa vào ngày tiếp theo. Sang ngày thứ ba, anh
lên sóng phát thanh và nói với thính giả: “Tôi đã nhận được đủ rồi!
Xin các bạn đừng gửi thêm tiền cho tôi nữa. Chúng tôi thậm chí
không biết phải làm gì với số tiền này!”. Mặc dù đã thông báo như thế
nhưng nhiều người vẫn tiếp tục tìm mọi cách gửi tiền cho Ron. Một
số gửi đến địa chỉ nhà riêng của Ron, hoặc năn nỉ nhân viên bảo vệ
chuyển giúp số tiền này. Dường như có một sự thôi thúc khiến mọi
người cho đi 20 đô-la mà không cần biết lý do.
Không biết rõ lý do của Ron nhưng tận trong thâm tâm, những
người gửi tiền biết rằng nếu Ron Chapman yêu cầu gửi tiền, thì họ
muốn được là một phần trong dự án của anh. Chỉ trong vòng một
tuần, Ron đã nhận đến 12.156 chi phiếu với tổng giá trị gần một phần
tư triệu đô-la. Lúc đầu, Ron đã nghĩ sẽ trả lại tiền cho mọi người kèm
theo một món quà cảm ơn nào đó. Nhưng khi thấy số tiền nhận được
ngày càng nhiều, Ron bắt đầu cân nhắc đến các phương án sử dụng số
tiền quyên góp này.
Sự kiện này đã thu hút giới truyền thông đua nhau vào cuộc. Báo
chí và các trạm phát thanh từ khắp mọi miền đất nước bắt đầu liên hệ
để được trực tiếp gặp Ron. Điều mà tất cả mọi người đều muốn biết
là: “Từ đâu anh nghĩ ra ý tưởng này? Làm sao anh có đủ can đảm đề
nghị người khác gửi tiền cho mình mà không nêu bất kỳ lý do chính
đáng nào cả?”.
Ron kể lại rằng trong một cuộc họp với ban điều hành mới được
bổ nhiệm của đài phát thanh KVIL, anh đã trình bày cho họ nghe về
những thành tựu trong sự nghiệp trước đây của mình. Họ đã bật cười
khi nghe anh nói: “Chúng tôi đã xây dựng KVIL trở thành đài phát
thanh được yêu thích nhất tại thành phố Dallas này. Lòng tin mà mọi
người dành cho KVIL là rất lớn, đến mức nếu tôi lên sóng KVIL và đề
nghị mỗi thính giả gửi cho tôi 20 đô-la, tôi tin rằng nhất định mọi
người sẽ làm ngay”. Sự nghi ngờ của ban điều hành chính là thách
thức khiến Ron quyết tâm phải thực hiện buổi phát sóng đó, dẫn đến
sự kiện quyên góp tiền qua sóng phát thanh vào ngày 31 tháng 3 mà
mọi người đã biết.
Các đài phát thanh cạnh tranh không khỏi ngạc nhiên trước uy tín
của KVIL đối với thính giả. Làm thế nào mà KVIL có thể tạo ra tầm
ảnh hưởng sâu rộng đến thế? Giám đốc một trạm phát thanh đối thủ
đã phải thừa nhận: “Nếu việc quyên góp này nằm trong kế hoạch
quảng bá thì đây quả là một chương trình quảng bá tuyệt vời. Tôi
không chắc là mình sẽ gửi cho ai đó 20 đô-la mà không biết lý do cụ
thể. Trong suốt nhiều năm làm công việc phát thanh, tôi chưa từng
thấy trường hợp nào tương tự”.
Ngay cả những tờ báo và tạp chí ở nước ngoài cũng đăng những
bài viết đặc biệt về người phát thanh viên đã huy động được 240 ngàn
đô-la mà không cần nêu lý do. Thời báo Dallas Times Herald gọi Ron
là “Phát thanh viên hàng đầu ở Dallas, huyền thoại của ngành công
nghiệp phát thanh, người luôn đem đến niềm vui cho mọi người và
là ông vua của chương trình buổi sáng”.
Vậy Ron Chapman là ai và đã làm thế nào để đạt được ước mơ
của mình? Tôi sẽ kể cho các bạn nghe chi tiết câu chuyện về người
đàn ông này, bởi tôi là chị của Ron và là người luôn bên cạnh Ron
ngay từ khi em mới sinh ra.
Tôi vẫn còn nhớ mẹ tôi đã khóc khi sinh ra em: “Lại thêm một
miệng ăn nữa rồi!”. Lúc ấy không ai trong gia đình tôi nghĩ rằng sẽ có
một ngày, “cái miệng ăn” ấy có thể đem lại niềm vui cho hàng ngàn
người vào mỗi buổi sáng và còn có thể kiếm được nhiều tiền hơn mẹ
tôi từng ao ước. Ron đã đem đến những “điều kỳ diệu” không chỉ cho
cuộc sống của gia đình tôi, mà còn cho tất cả những ai có cơ duyên
được biết đến em.
- Florence Littauer
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
PHẦN 1. DÁM ƯỚC MƠ
“Tôi chân thành
vì còn nhiều người tin tưởng tôi.
Tôi trong sáng
vì còn nhiều người quan tâm đến tôi.
Tôi mạnh mẽ
vì còn nhiều điều cần phải chịu đựng.
Tôi can đảm
vì còn nhiều việc phải dám làm.”
- Howard Arnold Walter
CÂU CHUYỆN GIA ĐÌNH
Ký ức đưa tôi quay trở lại thời điểm năm 1935 tại thành phố
Newton, bang Massachusetts. Đó là thời kỳ đất nước đang xảy ra tình
trạng suy thoái kinh tế nên cũng như tất cả mọi người, gia đình chúng
tôi phải đối mặt với vô vàn khó khăn. Nhà máy nơi cha tôi làm việc
hơn 30 năm buộc phải đóng cửa khiến nguồn thu nhập chính của gia
đình bị cắt đứt hẳn. Kiếm được một việc làm mới vào lúc đó không
phải là chuyện dễ dàng, nhất là đối với một người đàn ông 57 tuổi
chưa tốt nghiệp trung học như cha tôi. Bỗng chốc cha tôi phát hiện ra
mình – một Walter Chapman không việc làm, không tiền bạc và
không cả mơ ước! Tất cả những gì ông có lúc ấy là tôi, đứa con gái bé
bỏng 7 tuổi, em trai tôi - James 4 tuổi, và người vợ nhỏ hơn ông gần
20 tuổi đang mang thai.
Tôi vẫn còn nhớ vào đêm trước lễ Giáng sinh khi tôi đã lên
giường chuẩn bị đi ngủ thì nghe chuông cửa vang lên. Hiếm có ai đến
thăm tổ ấm bé xíu của chúng tôi vào giờ này nên tôi bật ngay dậy để
xem đó là ai.
“Ồ! Dorothy!”, giọng mẹ tôi đầy ngạc nhiên. Tôi nhìn qua khe cửa
để xem Dorothy là ai và nhìn thấy một người phụ nữ đã đứng tuổi với
cách ăn mặc và phục sức rất sang trọng. Tôi thầm nghĩ người này
chắc hẳn phải rất giàu có.
“Katie, tôi không biết phải bắt đầu câu chuyện như thế nào”, bà ta
nói. “Chị biết đấy, hai vợ chồng tôi không thể có con nên rất mong
mỏi có được một đứa con nuôi. Chúng tôi có đầy đủ điều kiện để đảm
bảo cuộc sống tốt nhất cho một đứa trẻ. Tôi biết chị và Chappie nuôi
hai đứa lớn cũng khá vất vả nên xin chị cho phép chúng tôi nhận nuôi
đứa nhỏ sắp sinh.”
Bà ta muốn bắt em bé của tôi ư? Không thể được! Tôi cảm thấy
như nghẹt thở nhưng vẫn cố đứng nép sát cánh cửa phòng ngủ để
theo dõi câu chuyện.
“Katie, chị vẫn có thể đến thăm nó thường xuyên.”
Đến thăm ư? Tại sao bà ta không đến thăm em bé mà lại là mẹ tôi!
Bố mẹ đã đặt nôi em bé cạnh giường tôi rồi. Tôi bật khóc khi nhìn cái
nôi trống không. Tôi rất yêu em James, thích được chơi đùa với em,
thích chải những lọn tóc vàng của em, cho em mặc đồ cũ của tôi và giả
vờ xem em như là bé gái. Tôi đã sẵn sàng đón thêm một đứa em nữa,
vậy mà người phụ nữ này muốn đưa em tôi đi ngay cả trước khi tôi có
thể bế em trong tay.
“Chị nói đúng! Có thể chúng tôi không đủ điều kiện để nuôi cháu”.
Tôi nghe tiếng mẹ cương quyết. “Nhưng nếu Chúa đã cho chúng tôi có
đứa con này thì hẳn Người sẽ có cách giúp chúng tôi nuôi được nó.”
Hai người còn nói chuyện thêm một lúc nữa rồi bà Dorothy ra về.
Trước khi bước ra cửa, bà vẫn còn nuôi hy vọng khi quay lại dặn mẹ
tôi: “Katie, khi nào chị thay đổi ý định, hãy cho tôi biết nhé! Tôi có thể
đến đón cháu bất kỳ lúc nào”.
Bất kỳ lúc nào ư? Tôi nghĩ bụng: “Từ bây giờ mình phải để ý đến
việc này thôi!”.
Buổi sáng ngày 25 tháng 1 năm 1936, mẹ tôi dịu dàng ôm tôi và
James vào lòng và cho biết rằng mẹ sắp vào bệnh viện sinh em bé. Tôi
nhớ mình đã ôm hôn tạm biệt mẹ và hứa với mẹ rằng sẽ ở nhà ngoan
- lời hứa mà tôi luôn bị bắt buộc phải nói mỗi khi chia tay. Tôi mong
có một đứa em gái vì tôi đã có em trai rồi nhưng mẹ tôi lại cho ra đời
một bé trai. Khi nghe bố thông báo tin đó, tôi tự hỏi không biết mẹ có
cho em bé làm con nuôi không bởi vì tôi biết mẹ cũng thích con gái.
Tôi quyết định là mình phải chăm sóc em bé thật tốt và nếu bà
Dorothy có trở lại thì tôi sẽ giấu em đi ngay.
Khi bố mẹ đưa em bé về nhà, tôi nhìn em và cảm thấy yêu em
ngay tức thì. Tôi ngồi cạnh nôi em hàng giờ và đọc cho em nghe
những câu chuyện mà em không thể nào hiểu được. Tôi còn làm thơ
về em gửi đến tạp chí Wee Wisdom. Tác phẩm đầu tiên của tôi – bài
thơ Em bé của tôi đã được đăng trên số báo xuất bản vào tháng 4
năm 1936. Có thể bây giờ, bài thơ này không tạo ấn tượng gì đặc biệt,
nhưng vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, tạp chí Wee Wisdom
đã tìm lại bài thơ Em bé của tôi và cho in lại.
Khi em bé được vài ngày tuổi, bố mẹ bắt đầu bàn bạc về việc đặt
tên cho em. Tôi được đặt theo tên của bà nội và bà ngoại là Florence
và Marcia. James thì được mang tên của ông ngoại và có tên lót là
Walter, trùng với tên của bố tôi. Rõ ràng là trong hai lần đặt tên
trước, mẹ đã thuyết phục được bố tôi nên lần này bố tỏ thái độ cương
quyết: “Anh muốn được đặt tên con theo tên hai người bạn thân nhất
của anh là Ralph và Fred”. Thế là em tôi có tên thánh là Ralph
Frederick Chapman. Cả hai chú Ralph và Fred đều không có con nên
họ đã rất xúc động khi biết bố tôi lấy tên của họ đặt cho con mình. Vài
tháng sau đó, với sự hỗ trợ tài chính của hai người bạn này, bố tôi đã
mua được cửa hàng Riverside Variety ở Haverhill, Massachusetts và
chuyển cả gia đình về đó.
Nơi chúng tôi dọn đến là một căn nhà màu nâu tồi tàn bên ngoài
dán đầy những hình trang trí màu vàng, phía sân sau có hai xưởng
sửa xe. Bên trong căn nhà là một cửa hiệu chất đầy kẹo và bánh. Nơi
này đã trở thành phòng khách, phòng ăn và phòng sinh hoạt của cả
gia đình chúng tôi. Sau cửa hàng có một gian bếp nhỏ; một phòng ngủ
bé xíu cho cả năm con người và thêm một khoảng không gian trống
chỉ đủ để kê một chiếc ghế trường kỷ và cây đàn piano.
Cửa hiệu nhỏ đến nỗi nếu chúng tôi nói chuyện ở phòng trong thì
khách hàng đứng bên ngoài vẫn có thể nghe được rất rõ. Đã vậy mà cả
nhà tôi đều có giọng nói to, thế nên bố tôi quy ước rằng nếu chúng tôi
đang nói về ai mà người đó bước vào cửa hàng thì ông sẽ báo hiệu
bằng cách hát “Holy, Holy, Holy”. Quy ước này ăn sâu trong ký ức tôi
đến mức giờ đây mỗi khi tôi đang nói mà bất chợt nghe lại giai điệu
này thì dù ở bất cứ nơi nào, tôi cũng khựng lại ngay theo một phản xạ
hết sức tự nhiên.
Cuộc sống ở cửa hàng mới tỏ ra là một thế giới đầy hấp dẫn đối
với Ralph vì ngày nào Ralph cũng có một số khán giả nhất định. Ngay
từ khi biết nói một câu hoàn chỉnh, cậu bé đã thể hiện năng khiếu hài
hước tuyệt vời và có ý niệm chính xác về thời gian. Ralph tiếp thu
nhanh chóng những gì tôi dạy và có khả năng lặp lại những mẫu
quảng cáo trên tivi một cách chuẩn xác với một giọng điệu hết sức
ngộ nghĩnh khiến nhiều người sẵn sàng bỏ tiền ra để nghe cậu bé nói.
Những khi cửa hàng vắng khách, tôi dẫn Ralph xuống xưởng sửa xe
chơi, và những người thợ sửa xe cũng cho tiền để được nghe cậu bé
đọc thơ.
Nhưng khi đến tuổi đi học, sự hài hước của Ralph đã gây ra
không ít phiền toái. Không phải giáo viên nào cũng thích tính hài
hước đôi khi quá mức của cậu bé. Thậm chí một số thầy cô đã phải
thất vọng thốt lên: “Sao em chẳng thông minh giống anh chị của em
chút nào vậy!”. Mẹ tôi cũng rất sợ phải nghe lời phê bình của các thầy
cô giáo về Ralph nên tôi phải đi thay mẹ trong các cuộc họp phụ
huynh lớp em. Và khi về thuật lại cho mẹ nghe, tôi thường giấu bớt đi
những trò nghịch ngợm của Ralph.
Khi Ralph vào trung học, mẹ tôi đã phải nhiều lần giúp em làm
các bài luận văn chương. Môn tiếng La-tinh và môn đại số cũng là
một cực hình không kém đối với Ralph. Tôi vẫn còn nhớ lần em đang
cố gắng giải bài toán yêu cầu tính tỷ lệ tấn cà phê Colombia với cà phê
Braxin trong hỗn hợp. Ralph đã nhìn mẹ và nói: “Cách duy nhất để
con có thể làm được bài toán này là gọi điện đặt hai tấn cà phê, đổ tất
cả trước cửa hàng, trộn chúng lại rồi chúng ta sẽ mang thìa to ra đong
đếm”. Lần đó, mẹ tôi, người mẹ mà trong đầu không có ý niệm gì về
sự khôi hài, cũng không nhịn được cười.
Em tôi dành hầu hết thời gian của mình để nghe đài phát thanh
và học lời những bài hát đang thịnh hành lúc đó. Ralph để dành tiền
mua đĩa của Spike Jones. Chẳng bao lâu sau em đã có thể hát được tất
cả các bài hát của Spike và trở thành một diễn viên được yêu thích ở
những buổi biểu diễn địa phương. Chị em tôi cùng nhau dành dụm
tiền mua một cái máy ghi âm cũ và Ralph bắt đầu thu đĩa nhạc cho
riêng mình. Ralph nhờ một người bạn đệm đàn piano để ghi âm bài
hát Mule Train và mang đĩa đến đài phát thanh địa phương WHAV
với hy vọng được phát bài hát của mình. Lúc đó chúng tôi không dám
tin rằng đài phát thanh này lại có thể đồng ý phát một đĩa hát được
sản xuất tại nhà và làm cho đĩa hát ấy nổi tiếng cả. Thế nhưng hy vọng
của Ralph đã trở thành hiện thực.
Lúc Ralph học trung học thì tôi trở thành giáo viên và dạy học tại
trường của em. Mỗi ngày, chúng tôi vẫn cùng nhau đến trường và trở
về nhà. Tôi vẫn luôn quan tâm đến Ralph như một người mẹ, người
chị và cả cô giáo của em. Tôi vẫn thường chia sẻ tất cả những kinh
nghiệm và kiến thức tôi học được với Ralph. Hai chị em chúng tôi
được xem như là một đôi khắng khít và thường được mời tham gia
các buổi tiệc. Sự hiện diện của chúng tôi làm cho không khí buổi tiệc
trở nên sinh động hơn. Chúng tôi luôn cập nhật tin tức về tình hình
thế giới và chuẩn bị sẵn một số ý tưởng cho các đề tài thời sự nóng
hổi. Rồi chúng tôi đợi cho đến khi có ai đó nêu các đề tài này ra và bắt
đầu thảo luận. Sự “bộc phát đã được chuẩn bị trước” này khiến chúng
tôi trở thành linh hồn của mọi cuộc vui.
Có lẽ điều duy nhất Ralph tỏ ra thích thú ở trường học là các ban
nhạc và dàn đồng ca. Em học thổi kèn trumpet và học luyện giọng.
Năng khiếu bẩm sinh đã giúp em trở thành học sinh xuất sắc trong cả
hai lĩnh vực này. Nhưng Ralph vẫn không thôi những trò nghịch
ngợm. Khi ban nhạc không hoạt động thì tất cả nhạc cụ được cất giữ
trong một nhà kho có khóa và hàng rào chăng dây xích xung quanh.
Kho nhạc cụ nằm gần nơi tôi dạy học và Ralph được giao chìa khóa
kho. Khi thấy không có ai ở gần đấy, em liền mở cửa và xếp chiếc kèn
tuba sao cho miệng kèn thò ra ngoài lỗ hàng rào. Lúc giờ học bắt đầu,
em đến gần kho và vỗ thật mạnh vào miệng kèn. Khi giáo viên trong
trường nghe tiếng kèn và chạy đến tìm kẻ phá phách thì chỉ thấy cái
kho nhạc cụ vắng lặng và vẫn được khóa kín. Không ai hiểu được tại
sao cái kèn lại có thể tự kêu trong cái kho khóa kín đó. Hội đồng giáo
viên của trường đã họp lại và thống nhất giao cho một thầy giáo
nhiệm vụ gác cửa kho nhạc cụ suốt ngày. Thế nhưng tiếng kèn ấy vẫn
phát ra. Sau nhiều lần tìm kiếm thủ phạm không thành công, người
thầy giáo ấy buộc phải từ chối công việc này.
Trò tiếp theo của Ralph là biến lớp học đánh chữ thành một ban
nhạc. Trước khi bắt đầu giờ học, Ralph thông báo cho các học viên
mới đánh máy bài hát mà Ralph đã chọn. Khi giáo viên vào lớp và
giao bài tập đánh máy cho cả lớp thì mọi cặp mắt đều quay về phía
Ralph. Khi Ralph gật đầu làm hiệu, cả lớp liền đánh máy lời bài hát
đã chọn. Alexander's Ragtime Band là bài đánh máy được yêu thích
vì cứ hết mỗi dòng là chuông lại reo, còn Jingle Bells là bài hát được
ưa chuộng nhất vào dịp Giáng sinh. Để em không bị đánh rớt trong
môn học này, tôi đã phải hứa với giáo viên của lớp rằng Ralph sẽ
dừng việc đánh máy các bản nhạc và rằng tôi sẽ không bao giờ cho
phép em thực hiện các bài tập đánh máy nếu không có sự đồng ý của
thầy giáo.
Không thể không nhắc đến phong trào trồng vườn cũng vào thời
trung học của Ralph. Những học sinh tham gia trồng vườn vào mỗi
mùa hè sẽ nhận được 1/4 điểm thành tích hoạt động. Để có được 1/4
điểm này, mỗi học sinh phải trồng một vườn cây riêng, phải ghi chú
chi tiết thời gian gieo hạt, thu hoạch và nộp báo cáo vào thời điểm
khai giảng năm học mới cùng với một mẫu sản phẩm. Ralph đã đăng
ký phong trào này để có thêm điểm số cho kỳ tốt nghiệp cuối khóa.
Thế nhưng, suốt cả ba mùa hè, em chẳng trồng được cây nào cả. Mỗi
năm học mới bắt đầu, tôi và em đã phải chạy đến vườn cây nhà bà Lil
và mua tất cả những gì có trong vườn. Sau đó tôi lại viết giúp em một
bản báo cáo về thời gian gieo hạt, nảy mầm và phát triển rồi đính kèm
vào giỏ sản phẩm em mang nộp cho thầy giáo. Nếu không có 1/4 số
điểm làm vườn thì chắc hẳn Ralph khó mà tốt nghiệp trung học được.
Ngày lễ tốt nghiệp, lúc ngồi trên hàng ghế dành cho phụ huynh, mẹ
tôi đã thì thầm: “Lẽ ra hai mẹ con mình mới là người được nhận bằng
tốt nghiệp hôm nay. Chúng ta đã làm gần hết mọi việc cho Ralph còn
gì!”.
Phải, mẹ và tôi đã làm phần lớn mọi việc, nhưng Ralph lại là
người có khả năng thuyết phục chúng tôi làm những việc ấy. Lúc ấy,
hai mẹ con tôi không hề nghĩ rằng sẽ có ngày Ralph thành công như
ngày nay vì mẹ tôi vẫn luôn lo sợ: “Nếu sau này nó vẫn không nghiêm
túc và thực sự làm việc thì có lẽ cuộc đời nó sẽ chẳng đi đến đâu được
cả”.
Đến khi trở thành sinh viên đại học, Ralph đã cộng tác với WHAV
trong việc đọc tin tức và thực hiện những buổi phát sóng quảng cáo
sản phẩm trực tiếp. Ralph còn được đặc cách thực hiện chương trình
riêng dài mười lăm phút của mình hai lần một tuần.
Mỗi buổi sáng, em mở radio để nghe chương trình Carl de Suez
của đài Boston's WBZ-AM. Carl là một nhân vật nổi tiếng và được yêu
thích ở nước Anh. Ralph nhanh chóng học theo và chẳng bao lâu em
đã có thể hát được tất cả các bài hát của Carl phát trên sóng. Ralph
ngưỡng mộ Carl vì: “Anh ấy là nguồn động lực để em thức dậy sớm
mỗi ngày. Với anh ấy, dường như buổi sáng nào cũng là một khởi đầu
tuyệt vời cho một ngày mới. Carl làm em cảm thấy thoải mái và phấn
khích khi làm việc”.
Từ đó, Ralph đã thức dậy sớm để được nghe chương trình của
Carl, để bắt đầu một ngày mới đầy sức sống và để cảm nhận ý nghĩa
của cuộc sống. Và với khả năng âm nhạc xuất chúng, với suy nghĩ
nhạy bén và khiếu khôi hài đặc biệt, em đã làm được nhiều điều mà
không ai trong gia đình chúng tôi từng nghĩ đến.
KHỞI NGUỒN CỦA ƯỚC MƠ
Không phải lúc nào chúng ta cũng gặp được những môi trường
tốt để ươm mầm và nuôi dưỡng ước mơ. Đôi khi ước mơ bị chi phối
bởi những định kiến và nỗi ám ảnh trong quá khứ. Một số người tin
rằng mình sẽ chẳng bao giờ làm được điều gì lớn lao cả bởi bố mẹ
thường xuyên nhận xét về họ như thế. Một số khác lại bị mặc cảm bởi
sự không hoàn thiện về trình độ học vấn hay khiếm khuyết của bản
thân nên tự cho rằng mình không đủ tố chất để thành công. Một vài
người tuy đạt được mục tiêu đề ra và kiếm được nhiều tiền, nhưng
tận sâu thẳm trong lòng vẫn cảm thấy chưa bằng lòng với chính mình.
Chắc hẳn bất kỳ ai trong chúng ta cũng đã nhiều lần tự hỏi “Thực sự
tôi là ai và có vị trí nào trong cuộc sống này?”, nhưng không phải ai
cũng tìm được câu trả lời rõ ràng và thỏa mãn.
Vì vậy, từ bây giờ chúng ta hãy mạnh dạn bước ra khỏi lối mòn
của những nhận định và định kiến trước đây để bắt đầu một chặng
đường mới phía trước. Xuất phát điểm cho tất cả những điều tốt đẹp
trong tương lai là dám ước mơ. Đúng thế, nghỉ ngơi bao giờ cũng
thoải mái hơn là cố gắng, từ bỏ bao giờ cũng dễ dàng hơn là giữ chặt.
Nhưng nếu chúng ta mãi thụ động ngồi chờ đến khi con đường thành
công hoàn toàn mở ra trước mặt thì có lẽ cả cuộc đời này chúng ta sẽ
mãi ngồi trên chiếc xích đu trước cổng nhà. Bạn hãy hình dung mình
đang đứng trên boong một chiếc tàu, ngắm đại dương bao la và trời
xanh đầy nắng trong một tâm thế hoàn toàn tự do. Bạn có thể cảm
nhận được mùi hương ngọt ngào của đóa hoa thành công, nhưng nếu
muốn hái được chúng thì bạn phải rời vị trí và phải chịu đựng đau
đớn bởi những chiếc gai nhọn của nó. Do đó, một số người thà ngồi
tại chỗ để được thong dong chứ không muốn đứng dậy và di chuyển.
Một số khác lại bằng lòng với những điều tương đối hơn là phải gắng
sức để gặt hái những điều tốt nhất. Họ muốn ở vị trí an toàn hơn là
mạo hiểm với ước mơ. Thậm chí một số người cho rằng không cần
phải ước mơ vì số phận đã sắp đặt mọi thứ.
Quyển sách này sẽ không hướng dẫn bạn cách đạt được thành
công về mặt tài chính mà chỉ khuyến khích bạn hãy đứng dậy và rời
khỏi chiếc xích đu trước cổng nhà. Bất kể bạn là ai, có tính cách ra
sao, xuất thân và địa vị xã hội như thế nào, bạn đều có thể tìm thấy
hình ảnh của chính mình trong những câu chuyện cuộc đời này.
Đừng ngồi trên chiếc xích đu lâu hơn nữa! Đừng nhét ước mơ
của bạn vào trong gối và ngủ quên! Đừng lưỡng lự, do dự chỉ vì sự trì
trệ và thiếu quyết đoán! Tôi muốn khích lệ bạn hãy mạnh dạn bước ra
khỏi cổng nhà. Hãy tiếp tục đi tới và tiến thẳng đến vạch xuất phát!
TIẾN ĐẾN VẠCH XUẤT PHÁT
Ước mơ hướng bạn đến với những điều mới mẻ và khác biệt so
với thực tại. Ước mơ giúp bạn nuôi dưỡng khát vọng vượt lên những
điều bình thường. Ước mơ mang đến cho bạn niềm vui sáng tạo và
nhiều điều thú vị trong cuộc sống. Nhưng trên hết, bạn phải là người
quyết định ước mơ của mình. Hãy thay đổi thói quen sống phụ thuộc
vào những chỉ dẫn, lời khuyên của người khác để tự xác định ước mơ
riêng cho cuộc đời bạn.
Tôi biết có rất nhiều người một ngày nào đó chợt tỉnh dậy với
ngọn lửa khát vọng bừng cháy trong tim. Ngay lập tức, họ nhận ra
ước mơ đích thực của mình và quyết tâm thực hiện đến cùng để trở
thành những con người thành công và nổi tiếng. Còn bạn thì sao, có
ngọn lửa khát vọng nào đang bừng cháy trong tim? Bạn có cảm thấy
lòng nhiệt huyết của mình đang tuôn trào nóng bỏng khi nghĩ đến
những ước mơ? Đã đến lúc bạn phải đánh thức khát vọng sống và
những ước mơ có lẽ vốn đã ngủ quên từ lâu trong tâm hồn bạn.
Nhưng đâu là điểm bắt đầu? Ước mơ có thể được nhận diện bằng
cách nào?
TỪ CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI XUNG QUANH
Trong quá trình trưởng thành và tự hoàn thiện bản thân, tôi đã
không ngừng tiếp nhận nhiều điều tốt đẹp bằng cách đọc sách hay
trực tiếp trò chuyện với những người xung quanh. Mỗi người là một
thế giới riêng về công việc, cách suy nghĩ, thái độ sống khác nhau
nhưng tôi nhận thấy rằng chỉ cần bạn biết lắng nghe và đặt câu hỏi
đúng lúc, bạn sẽ khám phá ra được nhiều điều giá trị cho chính mình.
Chấp nhận thử thách
Ngay trong lần đầu tiên trò chuyện với John Smart - giám đốc
kinh doanh một công ty thực phẩm Úc, tôi đã đánh giá cao năng lực
của anh. John thu hút người đối diện bằng đôi mắt biểu cảm, ánh
nhìn thân thiện và cách nói chuyện cuốn hút. Anh lớn lên trong định
kiến của mọi người rằng anh sẽ không bao giờ thành công. Sau một
lần kinh doanh thất bại khiến anh rơi vào tình trạng tuyệt vọng, anh
gặp được một người phụ nữ quan trọng – người không chỉ giúp anh
trở thành người bán hàng giỏi nhất nước Úc mà còn giúp anh trở nên
tự tin hơn về bản thân mình. John khiến tôi tò mò muốn tìm hiểu về
người phụ nữ đặc biệt đã làm thay đổi cuộc đời anh và những bí
quyết mà bà đã giúp anh từ vực thẳm của nản chí và tuyệt vọng lên
đến đỉnh cao của thành công và vinh quang. Và John đã xúc động kể
cho tôi nghe về Rosemary Moore, người phụ nữ không bao giờ chấp
nhận câu trả lời “không”.
Không chấp nhận câu trả lời “KHÔNG”
Rosemary là người Úc thuộc thế hệ thứ sáu của những người đầu
tiên di cư đến Úc. Samuel Pratt Winter, tổ tiên bên nội của bà, từ năm
14 tuổi đã rời bỏ Ireland sang Úc, lập nghiệp ở thung lũng gần ranh
giới giữa Portland và Wannon River, bang Victoria. Samuel Winter
Cooke, cháu trai của ông, là một trong những thành viên Quốc hội Úc
từ những ngày mới thành lập. Tổ tiên bên ngoại của Rosemary là
người Scotland di cư đến bang New South Wales, trong số đó có John
Robertson - về sau trở thành thống đốc bang New South Wales.
Rosemary là con cháu của những người đã dám ước mơ và đã thành
công, những người không nản chí khi nghe người khác ngăn cản:
“Ước mơ đó không thể thực hiện được”. Rosemary đã thừa hưởng
tính cách mạnh mẽ không sợ thất bại ấy từ truyền thống gia đình của
mình.
Ở tuổi 40, Rosemary chưa cảm thấy thật sự hài lòng với cuộc
sống của bản thân. Bà mong muốn được làm một điều gì đó thật khác
biệt cho cuộc đời còn lại. Khi thấy một mẩu quảng cáo tuyển dụng
giáo viên đăng trên báo, bà liền gọi điện đến để ứng tuyển. Nhưng
thực ra đây lại là mẩu quảng cáo tuyển nhân viên bán từ điển bách
khoa nên bà không mấy quan tâm. Mọi việc sẽ rơi vào quên lãng nếu
Michael, chồng bà, không nói rằng đây là một việc vượt quá khả năng
của bà và khuyên bà không nên cố thử sức. Tưởng chừng câu nói này
sẽ làm Rosemary nản lòng nhưng thực ra đây lại chính là điều mà
Rosemary, với cá tính nổi loạn di truyền của gia đình, đang rất cần
được nghe. Bà cảm thấy mình đang bị “thách thức” và đã trả lời
chồng: “Nhưng em vẫn muốn được làm thử!”.
Khách hàng đầu tiên của Rosemary là những người bạn của bà,
những người đã mua từ điển mà không cần nghe bất kỳ lời quảng cáo
nào. Việc này cứ tiếp diễn cho đến một hôm, một người bạn của bà
bất ngờ nói: “Nếu bạn không thuyết phục được mình rằng đây là một
quyển từ điển hữu dụng thì rất tiếc, mình sẽ không mua nó đâu”. Điều
này đặt Rosemary vào thế phải làm việc thực sự và bà đã bắt đầu dùng
lý lẽ để thuyết phục khách hàng mua sản phẩm. Khả năng kinh doanh
của bà đã được mọi người công nhận khi doanh số bán hàng ngày
càng tăng cao. Điều này càng khiến bà thêm tự tin vào bản thân mình.
Giá trị của sự thành công
Rosemary trực tiếp đến gặp sếp của mình để xin lời khuyên,
nhằm giúp bà có thể tăng doanh số bán hàng. Câu trả lời bà nhận
được là: “Gõ cửa từng nhà một, nhưng chắc là cô không làm nổi việc
này đâu”. Lúc đầu, Rosemary cũng cho rằng việc gõ cửa từng nhà quả
thực là quá sức với mình. Nhưng khi đến bãi đậu xe, dòng máu tiên
phong di truyền trong người bà chợt trỗi dậy. Bà muốn chứng minh
rằng sếp đã đánh giá sai về bà. Rosemary đã chạy một mạch 70 bậc
thang trở lại văn phòng của sếp để hỏi: “Tại sao bà lại nghĩ rằng tôi
không thể bán hàng trực tiếp?”. Câu trả lời Rosemary nhận được là
lời thách thức tìm hiểu về nghệ thuật bán hàng “gõ cửa từng nhà”.
Trở về nhà, Rosemary gọi điện cho cha và hỏi ý kiến, ông bảo:
“Con chỉ nên lưu tâm đến quan điểm của chính con. Đừng để bị dẫn
dắt bởi quan điểm của người khác. Tổ tiên của con đã gõ cửa lục địa
châu Úc này. Cha không thấy có lý do nào khiến con không đủ khả
năng gõ cửa từng nhà để bán hàng cả”. Với sự khích lệ ấy, Rosemary
đã phá vỡ các kỷ lục bán hàng của nước Úc và cả thế giới đối với sản
phẩm Bách khoa toàn thư. Sau này, Rosemary nhận định rằng: “Để
thành công, bạn phải để tâm trí không bị chi phối bởi những người có
tư tưởng đầu hàng. Walt Disney thường đưa ý tưởng mới ra tham
khảo bạn bè. Nếu có nhiều ý kiến phản đối, Disney lại theo đuổi ý
tưởng đó đến cùng. Đôi khi những lời chê bai lại là động lực để bạn
quyết tâm hơn đối với mục tiêu của mình”.
Rosemary nói rằng trong lĩnh vực bán hàng, sự thành công phụ
thuộc vào việc bạn biết “quên đi bản thân để giúp người khác đạt
được mục tiêu”. Đồng thời, bạn cũng phải biết duy trì lòng quyết tâm
bởi tinh thần quyết tâm sẽ giúp bạn cố gắng tiếp tục với mục tiêu
ngay cả khi niềm khao khát tạm lắng xuống. Thế nhưng, chiến thắng
không phải luôn là tất cả của mục tiêu và không nên đánh đổi chiến
thắng với những giá trị sống như quan hệ giữa con người, danh tiếng
của bản thân và của công ty mình đang gắn bó bởi theo Rosemary:
“Nỗi đau về việc đánh mất những giá trị ấy sẽ tồn tại lâu hơn hương
vị của chiến thắng”.
Tìm kiếm sự cân bằng
“Bí quyết của thành công là đạt được sự cân bằng. Sự thành công
phải được bắt đầu, duy trì và kết thúc bằng một thái độ kích thích sự
sáng tạo và hoạt động. Muốn thành công bạn phải có ước mơ, phải cụ
thể hóa ước mơ ấy thành mục tiêu, rồi phải phấn đấu để theo đuổi
những mục tiêu ấy. Bạn phải luôn nhìn về mục tiêu để tỉnh táo trước
những trở ngại, thử thách. Và một khi đã đạt được mục tiêu thì bạn
hãy chia sẻ kinh nghiệm với tất cả mọi người”. Rosemary đã làm
được những điều này. Bà đã khích lệ rất nhiều người như John
Smarts, giúp họ đứng dậy sau những lần thất bại và giúp họ gõ được
cánh cửa của thành công.
Bạn hãy nhớ lại xem đã có ai từng bảo rằng bạn khô...
 





