Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Dat rung phuong nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:21' 11-03-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:21' 11-03-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM
Đoàn Giỏi
www.dtv-ebook.com
Chương 1
Có lẽ từ hôm bước lên xóm chợ này, mình đã bắt đầu cuộc sống lưu lạc rồi chăng Những đêm giật mình
thức giấc nằm nghe tiếng gió rít thê lương từ các cánh đồng xa mông quạnh và lắng nghe tiếng nước chảy
ào ào dưới chân cầu nước (Bậc thang bắc ra sông để giặt giũ hay lấy nước) bắc ra con kênh thẳng tắp chạy
dài vô tận trước ngôi chợ này, tôi vẫn thường vơ vẩn nghĩ như vậy C
Tôi lạc tới xóm chợ này, tính ra đã có hơn nửa tháng.
Một buổi tối, đoàn thuyền vận tải quân lương của Uy ban kháng chiến Nam BỘ đỗ lại đây. Anh học sinh
trường côle người trong ban tiếp tế đã cho tôi theo thuyền từ Hậu Giang đến đây bảo tôi: "Chỉ ghé lại độ
nửa giờ cho các chú lên chợ mua thức ăn. CÓ muốn lên bờ không?.
Tôi lắc đầu. Anh bèn vỗ vai tôi cười lớn: "Vậy thì tốt quá, ngồi lên mui ngó lên bờ chơi cũng được.
Trông chừng đồ đạc em nhé!" Anh lần theo cây đòn dài bắc sang một chiếc thuyền khác, và lẹ làng như con
sóc, co người trèo qua be mấy chiếc tam bản, mấy chiếc xuồng nhỏ của những người đi chợ đậu ken dọc
theo bến rồi nhảy phóc lên bờ.
- Đừng đi đâu nhé Uống cà phê xong anh sẽ xuống cho chú mày cái bánh! - anh xốc khẩu súng mô-de
đeo bên hông, vẫy vẫy tôi và rướn hai chân, cố nói thật to để cho tôi nghe thấy.
- Rồi! Nghe rồi... Anh cứ đi đi! - tôi bắc tay lên mồm đáp lại.
Tôi ngồi đong đưa hai chân trên mui chiếc thuyền chở gạo ngóng lên chợ. Đèn măng-sông trong các
hiệu buôn, các tiệm ăn của người Hoa kiều thắp lên sáng rực. Chỗ khoảng sân rộng, những ngươi đàn bà
nông dân mặc quần áo bà ba đen, khăn rằn đen vắt chéo qua vai ngồi xếp từng dãy dài sau những chiếc cần
xé to tướng, những chiếc thúng đựng đầy ắp không trông rõ và không biết đó là thứ gì mà họ mang ra chợ
bán. Mỗi người bán hàng đều thắp một ngọn đèn con Ơû chỗ mình ngồi. Và những người đi chợ, cũng có
nhiều ngươi cầm theo trên tay một ngọn đèn.
Đèn người mua, đèn người bán cứ như sao sa.
Từ trong đám người ồn ào và những ánh lửa đèn luôn luôn cử động Ơû tít chỗ cuối chợ, bỗng nổi lên
bốn đầu ngọn đuốc cháy đỏ rực cùng với tiếng trống, tiếng thanh la khua rung dồn dập.
- Hát Sơn Đông, chúng mày ơi?
- Lại coi con bé nhào vòng lửa đi!
Mau lên, chúng mày ơi!
Bọn con nít từ khắp các ngõ ngách, từ trong các chỗ tối, từ dưới thuyền dưới xuồng chèo lên, ba chân
bốn cẳng reo hò chạy về chỗ đám hát rong. Tự nhiên hai chân tôi cũng ngứa ngáy muốn tuôn theo. Đã bắt
đầu nghe tiếng loa của người Khách mãi võ giới thiệu các môn trình diễn, và tiếng vỗ tay hoan hô cua đám
người xem vây quanh.
Tôi kiễng chân lên coi họ làm gì đằng ấy. Xa quá, chỉ thấy đầu ngươi lô nhô và mỗi lúc lại nghe tiếng
cười khoái trá dậy lên. lâu nay mình xem chán rồi. Còn lạ gì cái thứ trò ấy?" Tôi tự nhủ thầm như vậy và
khinh khỉnh nhìn về đám người huyên náo để nén sự thôi thúc cứ dồn trống trong ngực.
- Thằng An còn ngồi đấy không? - bác tài công già cầm xâu thịt và một mớ rau cải vừa bước lên đòn
dài vừa hỏi, giọng ồm ồm.
Cháu còn đây, bác ơi! - tôi vội đáp, bụng hơi rạo rực.
- Nè, mà mày muốn coi hát Sơn Đông không - bác lại hỏi.
- Các anh bảo cháu Ơû đây coi chừng thuyền.
Bác tài công vứt sâu thịt vào cái rổ, vặn lưng uốn xương sống nghe rắc rắc, hơi thở nặc nồng mùi rượu:
Ê! mày đã ăn thịt nai xào cải rổ chưa? Sáng mai tao cho mày ních một trận, phải biết nhá! - rồi bác cười
lớn:
Tao đã đi khắp ngọn nguồn sông lạch mà chưa thấy ai mập như con mẹ chủ quán này. NÓ rót luôn cho
tao năm ly rượu tấm bồng mắt thỏ mà không nhậu ra ngoài một giọt chớ - Bác có lên chợ uống cà phê
không? - Tôi hỏi.
- Tao mà cà phê cà pháo gì mậy? ờ, mà các chả đang làm cà phê trong cái quán chỗ đám hát Sơn Đông
đó?
Thôi, có tao Ơù đây rồi. Cho mày lên chợ chơi một lát. Nhớ đường trở xuống bến không Đừng có đi
đâu xa, coi chừng lạc Trời ơi, một thằng bé từ lọt lòng mẹ đến giờ sống ở thành phố như tôi mà có thể lạc
trong cái chợ nhỏ xứ quê này? Tôi cười thầm trong tối, từ trên mui gieo người nhảy độp xuống sạp thuyền.
- Cười gì đó mậy, An? - bác chướng mắt hỏi tôi.
- Không. Cháu có cười gì đâu - BỘ mày tưởng tao say hả? ê, tao còn thấy cái bông bần (một loại cây
mọc ven mé sông còn gọi là thuỷ liễu) trôi giữa kênh kia nhá!... Chà, nước giật ròng rồi.
Cháu lên đây, bác ạ!
Không chờ nghe bác ừ, thoáng cái, tôi đã đặt chân tới bờ. Chao ôi Chợ gì mà lạ lùng thế này? BỘ Tây
sắp đánh tới nơi, nên người ta đem vườn bách thú ra phát mãi hay sao! Một con ba ba to gần bằng cái
nong, đặt lật ngửa, cứ ngọ nguậy bơi bơi bốn chân trước ông cụ già ngồi lim dim đôi mắt. Những con rùa
vàng to gần bằng cái tô, đều tăm tắp như đổ Ơû cùng một khuôn ra, nằm rụt cổ trong mấy chiếc giỏ cần xé.
Đây là một con nai người ta vừa xẻ thịt ra bán, cái thủ còn nguyên chưa lột da bày giữa đống thịt đỏ hỏn
trên một tấm lá chầm. Cua biển cũng có, ếch cũng có nghêu sò cũng có. Còn cá tôm thì nhiều lắm, đủ các
loại tôm, không kể xiết. Tôi bước thêm mấy bước, qua những đống trái khóm chín vàng tỏa thơm mùi mật,
thấy hai con trút nằm khoanh, vảy xếp lại như những đồng hào lấp lánh. CÓ tiếng chim gì mổ nhau kêu
quang quác trong chiếc lồng kẽm chỗ tối tối: ngọn đèn vừa bị cánh chim đánh nhau quạt tắt, và người chủ
bán chưa kịp thắp lên. Một chú khỉ con cứ nhảy qua nhảy lại lia lịa, chờn vờn trèo lên đống bí ngô. Thấy
tôi đi qua, nó nhe răng khẹc khẹc, ngó tôi rồi quay lại nhòm người chủ, dường như muốn bảo tôi hỏi giùm
tại sao cái lão rậm râu kia không thả mối dây xích cổ ra để nó được tự do đi chơi như tôi... Đằng chỗ đám
hát rong, một tràng pháo nổi lên vang dậy. Tôi chẳng còn tâm trí đâu mà nhìn ngó chung quanh nữa. Tôi lại
ba chân bốn cẳng nhắm mắt nhắm mũi lao về phía tiếng ồn ào đang có một sức cuốn hút không cưỡng
được.
"Mình chỉ coi một chút thôi!" Tôi nghĩ bụng và đưa mắt nhìn vào trong ngôi quán cà phê nhỏ núp dưới
tán cây bã đậu chôm chôm những gai. Cái lưng gù gù anh học sinh trường côle lấp ló qua vai những người
dân quân tự vệ đội nón bàng rộng vành thả trễ sau gáy. Tôi muốn vào báo cho anh biết tới đã lên đây,
nhưng bụng phân vân:
, Lỡ ảnh bảo xuống thuyền thì sao?... ừ, mà mình chỉ cần coi qua một chút thôi mà?"
Chen đâu mà chen dữ vậy hả? - một thằng bé lùn lùn, béo ục ịch, trợn mắt hích khuỷu tay vào hông tôi.
- Cho tao coi một chút mà!
Nghe tôi nói bằng một giọng nhường nhịn, thằng bé tức thời nép người qua để cho tôi lách vào, rồi nó
nhe răng cườl làm như tôi với nó đã quen từ hồi nào.
- Mày mới tới à? Hồi nãy vừa diễn trò hai con khỉ kéo xe mê lắm?
ừ, mình mới tới! - tôi đáp cho có đáp, không còn chú ý nghe nó kể những gì bên tai nữa.
Người khách mãi võ mặc quần áo chẽn màu đen đã bán qua một lượt thuốc cao, bắt đầu giới thiệu tiết
mục "Em bé mười tuổi nhào qua vòng lửa - Trò này đêm qua nó diễn rồi. Không thể tả được mà!
- thằng bé lùn lùn béo ục ịch lại rỉ tai tôi, giọng đầy tự hào về cái chuyện nó đã được xem trước tôi.
Một em bé vận bộ quần áo bằng xa tanh màu đỏ, tóc tết quả đào, mang đôi hài vải đen bước ra, cúi
chào khán giả Chiếc vòng sắt quấn giẻ tẩm dầu lồng giữa một khung gỗ hình chữ nhật, dựng đứng cỡ ngang
tầm mắt tôi, bày giữa hiện trường. Dứt loạt vỗ tay chung quanh, người Khách già cầm ngọn đuốc châm vào
chiếc vòng quấn dẻ. Tức thời một vầng lửa hình trong như chiếc bánh xe lửa của Na-tra (Một nhân vật
trong truyện "phong thần" trung quốc) phực cháy vù vù. Em bé lại nghiêng đầu chào mọi người rồi dún
chân một cái, chạy tới ba bước gieo mình như một con thoi bay qua vòng lửa.
Mắt tôi hoa lên, chỉ còn thấy cái bóng đỏ lao qua lao lại xuyên ngang vầng lửa, và hai tai tôi ù đi vì
tiếng reo hò, tiếng vỗ tay vang dậy- Đêm qua, nó nhào sáu lần mà bữa nay nó tăng lên tới tám lần! Mày thấy ghê chưa? - thằng bé lùn lùn
béo ục ịch hích tôi, vênh mặt nói.
Trong lúc người Khách cầm mấy chai rượu thuốc đi vòng quanh chào hàng thì em bé vừa đứng thở vừa
đưa hai bàn tay nhỏ phủi phủi những sợi tóc cháy trước trán.
Dáng như đêm nay số thuốc bán được ít ỏi quá. Người Khách mặt buồn buồn, đặt mấy chai rượu thuốc
lên cái rương lớn màu đen, cố làm ra vẻ tươi tỉnh:
- ông bà cô bác xem xong trò này, rồi hẵng mua giùm sau cũng dược. Hầy? Tả lồ lên (đánh thanh la
lên)"
Tiếng trống, tiếng thanh la lại khua rung dồn dập.
ông ta cầm một nắm dao con sáng loáng tung lên bắt từng chiếc một, rồi lần lượt cắm tất cả mười hai
con dao ấy vào những khe hở đục trong cái vòng sắt còn dang rừng rục lửa. Những mũi dao nhọn hình lá
trúc đào lấp lánh ánh thép trắng xanh tua tủa chĩa ngược vào trong, càng làm thu hẹp cái khoảng tròn ban
nãy vừa đủ một thân mình ngươi chui qua. Ngươi Khách xiếc nhìn mấy người đánh trống đánh thanh la, ra
hiệu ngừng tay. ông ta nhường mắt hét lên một tiếng, rùng mình thu người lại và lập tức dún chân bay qua
giữa nhũng mũi dao tua tủa. Tôi nhắm mắt lại. Trời ơi! Chỉ nhích ra một phân, bất cứ Ơû phía nào thì
những mũi dao sắc nhọn như gươm kia cũng đâm xóc lút vào da thịt. ông ta lao đi lao lại ba lần như vậy
mà trông sắc mặt và hơi thở không chút biến đổi.
- Người lớn làm không hay. Em bé làm mới hay? - người Khách vung tay giới thiệu.
Em bé gái bước ra, nghiêng đầu chào mọi người. Hai bàn chân đi đôi hài vái đen nhỏ xíu khơi động
giẫm lên giẫm xuống một chỗ trên mặt đất lởm chởm những hòn cuội Tôi hồi hộp qua. Đôi môi em bé run
run. RÕ ràng là nó đang cố trấn tĩnh trước phút biểu diễn cái trò vô vùng nguy hiểm này.
CÓ ba Ơû đây, con? - người Khách nói bằng giọng khuyến khích vui vẻ, nhưng cặp mắt ông ta trông
nghiêm nghị đáng sợ.
Em bé tức thời hét lên một tiếng như bố, dún chân bay xuyên qua giữa vòng dao rực cháy. Chung quang
im phăng phắc. Mọi ngươi không kịp vỗ tay. CÓ lẽ vì sự thán phục cùng với nỗi lo sợ thay cho em bé cùng
một lúc ập vào làm choáng ngợp mọi trái tim người. Em bé lao qua vòng dao lần thứ nhất, rất dễ dàng. Em
lại mím môi lao qua lần thứ hai. Đến lần thứ ba, thì một tiếng thét kinh hoàng của những người xem nổi lên
chung quanh tai tôi.
Em bé đã ngã bổ xuống bàn chân phải mắc vào một mũi dao.
Người xem chạy ùa vào. ông Khách già ôm ngang lưng con gỡ chiếc hài đen ra khỏi mũi dao. Một dòng
máu đỏ từ trong vết thương bàn chân em bé tuôn ra như suối.
Không hề gì mà! Dán một lá thuốc cao, khỏi ngay thôi? - ông Khách vùa nói vừa rắc một ít thuốc cầm
máu màu đen để hàn miệng vết thương, và trao đứa con gái cho một bà xẩm vác đưa xuống chiếc thuyền
đậu trong một con kênh gần đấy.
Bọn trẻ nhỏ ùn ùn chen lấn chạy theo coi. Mặc dầu đám hát vẫn tiếp tục biểu diễn, nhưng tôi không còn
lòng đã nào xem nữa. Tôi cũng chạy theo đám trẻ, lần xuống mé sông đứng ngó vào thuyền.
Em bé ngồi tựa lưng vào mui, đôi mắt to đen láy nhìn xuống vết thương trên mu bàn chân đã được bó
một lá thuốc cao. Không thấy máu chảy nữa. Nhưng bàn chân cứ run run, lâu lâu lại giật một cái, khiến em
nhắm mắt lại Bà xẩm cầm ngọn đèn soi vào chân con, tròng mắt đỏ hoe.
- Con có đau lắm không, con?
Em bé nhắm nghiền mắt, hai tay bóp chặt trên ống chân, lắc lắc đầu. Một giọt nhóc mắt người mẹ rơi
xuống bàn chân nhỏ của đứa con đau. Em bé mở choàng mắt ra, hốt hoảng nhìn mẹ, như vừa bị một giọt
nước sôi rơi trúng vào chân.
- Ơ không có làm sao đâu, má à? Buốt buốt một tí thôi!
Vừa nói, cô bé vừa quờ tay ôm ngang lưng mẹ và cố nhoẻn cười cho mẹ yên lòng. Nhưng sau đó một
chốc, em lại nhắm mắt lại. Mấy giọt mồ hôi rịn rịn ra trên vầng trán nhỏ. Tôi biết chắc chắn rằng em bé
đau lắm. Tôi không dám đứng nhìn nữa, bèn trở lên chợ.
Bấy giờ đám hát cũng vừa tan. Tôi sực nhớ ra là mình đã di lâu quá. Tôi liền chạy vào quán cà-phê.
Không thấy anh học sinh côle dâu. Tôi nhằm hướng đầu ngọn cây bàng khô, chạy một mạch về. Đoàn
thuyền vận tải quân lương không còn chiếc nào đậu Ơû đó nữa. Tôi chạy dọc theo bến chợ một quãng, hi
vọng họ vừa rời di, mình còn có thể đuổi theo kịp.
Trời tối quá. Lửa đèn trên sông dần dần thưa thớt. Chợ cũng đã tan rồi. Tôi trèo lên một đống gạch,
đứng ngóng theo làn nước lấp loáng ánh sao xuôi xuôi trên dòng kênh không biết chảy về đâu. Một người
đàn bà quảy đôi thùng xuống bến lấy nước, đứng lại nhìn tôi hồi lâu rồi hỏi:
Có Phải mày Ơû trong đoàn thuyền vận tải không?
- Dạ phải! - tôi vội đáp, bụng hơi mừng - HỌ đi dâu rồi dì?
- Trời ơi? Mày đi đâu mà họ tìm mày khắp cả chợ? HỌ đi rồi. Đi từ tám hoánh nào rồi! Nhổ sào từ hồi
nước mới ròng. Và người đàn bà chép miệng: - Chà, chừng như họ được lệnh đi ngay hay sao ấy. Gấp lắm
thì phải!
- Dì có nghe họ nói đi đâu không - tôi hỏi lại.
- Chuyện quân sự mà, biết sao lọt! Thế mày cũng không biết à? HỌ không nói với mày à?
- Không, dì ạ!
- Mày có ba má, anh em gì trên thuyền không?
- Không. Cháu đi quá giang thôi.
Người đàn bà chành môi ra dài giọng:
Thảo nào?... Người ta có việc của người ta chứ. Ai bảo cứ ham chơi, đi những đâu?.
Người đàn bà không nói gì nữa, lẳng lặng xuống sông gánh nước lên chợ. Tự nhiên tôi thấy trong lòng
mình rưng muốn khóc...
Ban ngày tôi thẩn tha đi dọc theo bến, mong có gặp người nào quen trong đoàn thuyền vận tải quân
lương trở lại đây không. Ban đêm tôi, tôi vào ngủ trong chợ, chui dưới gầm một thớt bán thịt lợn của người
Hoa kiều.
Nhũng người đàn bà trong chợ gọi tôi là thằng bé tản cư. Nghe đâu hồi tháng trước, chợ này chỉ họp
buổi sáng. Hơn tháng nay, chợ nhóm suốt ngày, có đêm mãi chín mười giờ khuya mới tan. Người tản cư Ơû
các vùng trên đổ xuống ùn ùn như nước. Mặt nước dòng kênh không mấy lúc ngớt tiếng khua động mái
chèo. Cái chợ con nằm trên ngã ba kênh của xứ làng quê hẻo lánh này trở nên đông vui nhộn nhịp như một
trấn nhỏ. Người từ Sài Gòn chạy xuống tới đây cũng có. Người vùng Tiền Giang, Hậu Giang cũng có.
Nhiều con mụ đàn bà mặc áo lụa trắng rô-dê (tiếng pháp có nghĩa là thêu ), che dù đầm, núng na núng nính
rén bước đi lên chợ, mắt cứ ngó xuống chân dép xăng-đan, sợ bùn đất vấy gấu quần. Tiền bạc đựng nứt ví,
nhưng mua gì cũng chê ỏng chê eo, trả giá rẻ mạt. Tôi chỉ nghe họ than phiền với nhau rằng: Cánh mình dở
quá, không chặn nổi Tây", rằng "chạy vào đây không có nước đá uống, không có nước ngọt tắm". Thấy tôi
lảng vảng đến gần chỗ thuyền họ, họ nhìn chòng chọc vào tôi, bộ như muốn ăn thịt: ê đi đi, thằng nhỏ. MÒ
mẫm toan an cắp hả?" Tôi ức đến muốn khóc. CÓ ai quen, gặp tôi bây giờ cũng không nhận ra tôi nữa đâu.
Ngồi bó gối trên cầu nhìn xuống nước, chính tôi cũng khó nhận ra mình trong cái hình thù quái dị này. Tóc
tôi mọc dài gần phủ gáy, hai quầng mắt hõm sâu, cổ gầy nhom như cổ cò ma. Chiếc áo vét tông bằng ka ki
trắng của anh học sinh côle cho tôi, giờ đây đã biến thành màu cháo lòng, vạt áo phủ xuống tận gối, cứ kêu
loạt xoạt theo mỗi bước đi. Còn chiếc quần đùi bằng vải len của tôi thì bạc phếch ra, hai ống rách te tua
như bị cá chốt rỉa.
Ai nhờ việc gì, tôi cũng giúp. Mấy thím bán cá nhờ tôi khiêng thúng mủng, xách nước cho họ thay nước
rộng cá.
Em bé? Vác cho qua (tiếng xưng tôi thân mật của người có tuổi) bó mía đi!
- Em bé? Đội thúng tôm lên chợ giúp dì đi.
Nhỏ? Nhỏ! Chạy xuống mé kênh cắm lại cây sào của dì sắp trôi kia!
Kẻ cho tôi nắm xôi, người cho tôi gói bắp. Không ai biết tôi từ đâu trôi dạt tới.
Ngày nào tôi cũng tạt qua trước ngôi quán rượu một lần. Biết đâu bác tài công già hôm nọ chẳng qua
ngang mà ghé lại đây?
Những ngày đầu mùa mưa năm 1946 cứ ì ạch nặng nề lê đi từng bước khó khăn như ngươi đàn bà sắp
Ơû cữ cứ trở dạ mãi mà vẫn chưa đẻ được. Ở cái vùng nước mặn miền tây Nam bộ này, người ta mong
mưa như bọn trẻ con chúng tôi mong mẹ về chợ. Mưa có nước ngọt uống, có nước cầy bừa, nhưng điều
quan trọng nhất trước mắt, là mưa có thể làm chậm bước của địch trong các cuộc tiến công, gây trở ngại
cho chúng trên các nẻo đường hành quân vì trơn tuột, sình lầy.
Trời càng sắp mưa thì càng oi bức khó chịu, ban ngày mặt trời đổ nắng chang chang, nóng như giội lửa.
Chỉ khi đêm đến mới có đôi chút gió lao xao từ vùng vịnh Thái Lan thổi tới. Thường thường, đêm nào
người trong chợ cũng xách chiếu ra ngồi dọc bờ kênh hóng mát, coi thuyền tản cư và thuyền chở Cộng hòa
vệ binh (tổ chức chính quy của quân đội sau ngày nam bộ cướp chính quyền 1 trong 4 sư đoàn dân quân
cách mạng nam bộ) từ mạn trên trẩy xuống. Quán rượu của dì Tư Béo là nơi tụ họp của những người thức
khuya nhất, có khi đến một hai giờ sáng hãy còn đỏ đèn và ran tiếng nói cười.
ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM
Đoàn Giỏi
www.dtv-ebook.com
Chương 2
Trong Tửu Quán
Tôi thường lân la đến quán dì Tư Béo, bởi lý do mong gặp người quen. Nhưng còn một lẽ khác nữa, là
Ơû đó, tôi có thể nghe đủ mọi thứ chuyện trên đời. Việc gì vừa xảy ra Ơû bất cứ xó hẻm nào quanh chợ,
lập tức trong quán dì Tư Béo mọi ngươi đã biết ngay. Từ những tin nóng hổi Ơû mặt trận Vàm Xáng như...
một chiến sĩ ta bị thương, khúc ruột lòi ra, anh lấy tay nhét vào, không rên một tiếng", cho đến chuyện "ông
TỔ sư BỒ đề truyền dạy phép màu cho Tề Thiên Đại Thánh như thế nào... " tôi đều có thể nghe được Ơû
đây.
T
ĐÓ là một ngôi quán nhỏ xệch xạc, trống trước trống sau, cất dựa bên bờ kênh dưới bóng một cây gáo
cổ thụ.
Mái lá rách thủng lô chỗ, ban ngày nắng soi xuống mặt chiếc bàn dài, thả những bóng trứng vịt xuống
bên mâm người ngồi nhậu, và ban đêm, người ta có thể uống cả một vì sao xanh rơi trong lòng cốc.
Quán rượu dì Tư Béo nối tiếng về thứ rượu tăm ngọt giọng, phảng phất mùi cháy khê nồi mà không nhà
nào cất được, về tài xào nấu các món thịt rừng mà các lão già cũng hay bông phèng đã nức nở khen rằng
"nhắm xong một miếng, thấy người phấn hứng, trẻ tráng ra ngay".
Nhiều người tin như vậy. Chứ như tôi, tôi nghĩ rằng những người lui tới nơi đây là bởi tự thói quen cố
hữu của họ. Mà bà chủ quán vốn là một người đãi bôi xởi lởi, không bao giờ để phật lòng bất cứ một ông
khách nào dù khó tính đến đâu. Duy chỉ có một điều mà ai cũng biết nhưng cũng chẳng ai nói ra, là trong sự
dễ dãi hào phóng của bà ta, dù thế nào thì thế, một đồng xu cũng không lọt được qua cánh tay nhờn nhầy
bóng mỡ của bà, vì bà không để mình chịu thiệt với ai bao giờ. Chẳng vậy mà một hôm, bà ta đã bảo tôi:
"Tao thấy mày sống hổm rày ở chợ này như con chó hoang. Tội quá! về đây mà ở, tiếp giúp tao việc vặt
trong quán. Mày sẽ tha hồ ăn, tha hồ uống. Còn như công xá. Bà ta im lặng một lúc, sụt sịt mũi; "Nói
chuyện công xá, hóa ra cháu ở đợ cho dì sao? Dì có một thân một mình. Dì coi cháu như con thôi. Mẹ con
mà tính chuyện tiền bạc thì còn ra cái nghĩa gì Tôi đứng lặng đi một lúc lâu, bàng hoàng không biết đáp ra
sao. Trước mắt tôi, dòng kênh xanh ngắt lặng lẽ chạy hút vào chân trời. Một cánh buồm nhỏ xíu bồng bềnh
trên khói nước, ở một nơi nào xa lắm, đôi khi không trông rõ, dường nửa thực nửa hư. Quay nhìn về hướng
quê nhà, chỉ thấy mây trời đùn cao như núi. Ngày mai tôi sẽ đi về đâu sống ra sao, tôi chưa biết. Tôi chẳng
ở đây thì còn đi đâu nữa? Tôi gật đầu, chẳng nghĩ ngợi gì.
- Vâng. Cháu sẽ ở đây với dì!
Tôi trở thành thằng nhỏ hầu rượu trong quán dì Tư Béo bắt đầu từ hôm đó.
- Cầm hào bạc đây, ra chợ mà cắt tóc ngay đi - bà ta vừa truyền lệnh cho tôi, vừa tháo mấy cây kim
băng cài miệng túi áo chích đưa lên ngậm ngang mồm, và móc từ trong miệng túi thâm đen vì bẩn mỡ ra
một nắm giấy bạc, nhặt một tờ hào dúi vào tay tôi.
Khi tôi cắt tóc xong, trở về quán thì thấy bà ta lúi húi ngồi khâu bên rổ may.
Lại ướm thử cái quần đùi coi nào. Dì khâu cho mày đấy Bà ta đứng dậy, cầm mảnh lụa đen vừa cắt từ
ống quần dài cũ của bà chỉ cần khâu một đường lưng và một đường khoét đáy là thành một chiếc quần đùi.
Tôi mặc thử, thấy hãy còn quá rộng.
Cầm bánh xà phòng thơm của dì, xuống bến tắm đi.
Rồi lên mà mặc quần mới, con? - bà ta ngọt ngào bảo tôi.
Bà ta nói với tôi rất ít,? lời lẽ dịu dàng, nhưng mỗi câu là một mệnh lệnh. Sau khi tắm rửa xong, tôi vội
mặc chiếc quần lụa đen ngắn vào. Bà ta ngồi nheo mắt, cười.
làm rung rung hai tảng mỡ của đôi gò má bóng nhẫy, ngắm tôi hồi lâu.
- Tươm da! Sạch sẽ thơm tho nhưvậy mới có thể hầu khách được. Chứ đứng gần người ta mà hôi như cú
thì họ gõ chai lên đầu biết không" Mà trông mày mặt mũi cũng sáng láng đấy. CÓ chữ nghĩa gì bỏ túi
không?
Dạ, cháu đã đỗ xép-phi-ca (Tiểu học) tháng sáu năm ngoái.
- Thiệt chứ? Trời, thằng này giỏi đa? Mới mười bốn mười lăm tuổi mà đã dỗ phi-ca thì giỏi lắm. ờ, hồi
tao còn con gái, có một ông giáo phica chú ý đến tao, nhưng duyên trời không định: Chà, ngày xưa đỗ phica là đã nên ông nọ ông kia rồi. Khổ cho mày, gặp thời buổi loạn ly!...
Thế ba má cháu đâu?
- Dạ, ở xa lắm! - tôi đáp một cách miễn cưỡng..
Thấy tôi không muốn nói, bà ta cũng thôi không hỏi. Bà ta vốn là người khôn ngoan, lịch thiệp và từng
trải, luôn luôn đoán trước ý mọi người, biết lúc nào nên nói, lúc nào nên không và nên chấm dút câu
chuyện ở chỗ nào. Điều này, tôi nhận ra trong những đặc tính của bà ta chỉ qua vài ngày sau thôi.
Kể ra thì khách rượu của quán rượn dì Tư Béo không thiếu hạng nào. Những tay vô công rồi nghề, la cà
ngồi tán dóc suốt ngày cũng có. Những người tản cư, cắm thuyền tạt lên uống chén rượu rồi quảy qua đi
ngay cũng có. Bọn con buôn vào ngồi chỉ cốt lấy chỗ gặp gỡ, trao đổi luồng hàng đương khan hiếm và để
kiếm món xào nướng khoái khẩu hơn là vì cần nên đôi khi, một vài người lính Cộng hòa vệ binh có tuổi lén
rời chỗ trú quân vào làm một cốc rượu khan, trước khi ra khỏi quán cứ đưa ống tay áo chùi ria mép và dặn
đi dặn lại tôi: "Này, chú em, hễ có ban chỉ huy đến hỏi thì nói không có ai tới uống rượn đây cả nhé! Nhớ
nhé ".
Chỉ trong vài hôm, tôi đã quen mặt hầu hết những đệ tử Lưu Linh của xóm chợ này. Nhưng trong đám
người thường lui tới đây, tôi chỉ đặc biệt chú ý có hai người.
Một là lão Ba Ngù. Dường như lúc nào cũng có lão túc trực trong quán. Nói cho đúng thì lão ta cũng
không phải là tay mạnh rượu. Nhưng lão có thể lai rai uống được suốt ngày. Những chuyện tiếu lâm, những
chuyện giang hồ mã thượng lão kể đi kể lại với mọi người, tôi nghe đến thuộc làu những vẫn thích nghe.
Bởi mỗi lần kể, lão thường hay thắt thêm vào những chi tiết bất ngờ khiến tôi phải cười bò ra; hoặc cũng
có một đôi chỗ mà lần trước kể dài dòng, lão đã biết khéo léo thu vén bỏ đi cho câu chuyện thêm tròn
trĩnh, dễ nghe hơn. Những lúc đông khách, lão đứng dậy nhường chỗ cho người mới tới. Đôi khi lão còn
bưng hộ bát thừa giúp bà chủ quán. Dì Tư béo mến lão vì cái tài đưa chuyện và giữ khách không công của
lão, nên thỉnh thoảng bà ta cũng đãi lão cút rượu kèm theo một con khô cá lạt nướng. Ai mời rượu. lão đều
uống, không từ chối. Nhưng chỉ uống một chén con cho vui bụng ngươi ta thôi. Không bao giờ lão uống đến
chén thứ hai. "Mình là người biết tự trọng. Mình có phải là thằng già nát rượn đâu? " Lão thường lè nhè
nói một mình như vậy Cứ mỗi người một chén rượu mời, mỗi ngày đêm lão Ba Ngù có thể uống tính ra đến
một, hai lít? Lão luôn luôn cởi trần, áo chỉ dể vắt hờ bên vai, bảo: "Để vầy cho nó mát". Lão chỉ mặc độc
chiếc quần đùi: da mặt, da lưng đỏ như cua luộc. Dường như bấm vào bất cứ chỗ nào trong thân hình lão
cũng có thể chảy rượu ra ngay được...
ĐÓ là người thứ nhất.
Người thứ hai là Tư Mắm. Không biết y ở đâu, tên thật là gì. Chỉ biết rằng y thường chở mắm lóc, mắm
trê đôi khi chở cả dừa khô và bí rợ trong một chiếc ghe lườn bán dọc theo các xóm bờ kênh, nên đồng bào
gọi y là Tư Mắm. Còn người đàn bà chạc ba mươi tuổi mà Tư Mắm bảo là vợ y không mấy khi bước lên
bờ. có lần, tôi nghe thấy lão Ba Ngù che tay lên miệng bảo với dì Tư Béo: "Chà, bộ thằng Tư Mắm có ngải
hay sao mà nó chài được con nỡm đẹp quá. Không phải vợ hắn đâu. Dứt khoát là không phải bà chị ạ "Tư
Mắm ngươi dong dỏng cao nước xanh mét, tóc cắt bom-bê, mái tóc trước trán rủ xuống tận gò má bên phải.
Đôi mắt y rất bé và sắc lạ lùng, tròng mắt đảo đi đảo lại rất nhanh và không hề nhìn thẳng vào ai bao giờ.
Một buổi sáng, lúc tôi đang bưng rổ tôm càng xanh từ chợ về thì nghe tiếng tàu bay vè vè từ hướng Sóc
Trăng lượn đến. Người trong chợ xô nhau nhạy toán loạn.
Chiếc tàu bay đảo hai vòng trên xóm Ngã Ba Kênh, bay rất chậm nhưng thật cao, nghiêng qua nghiêng
lại quan sát rồi thả xuống một đống truyền đơn. Những tờ truyền đơn tủa ra, bị gió cuốn đi bay về mạn rừng
tràm cách chợ có đến vài ngàn thước. Không biết bọn giặc nói gì trong ấy Nhưng khi tôi về đến quán thì
gặp ngay lão Ba Ngù đứng chửi oang oang:.
- TỔ cha thằng Tây. Mày đánh thì xuống đây Chứ bay trên trời thả giấy xuống thì cũng chưa gọi là bảnh
Lão níu rổ tôm của tôi lại, hỏi:
Mày có nhặt được tờ nào đút trong này không Không - tôi dáp.
Truyền đơn nó kêu gọi Việt Minh đầu hàng đấy!
Sao bác biết? Bác nhặt được à?
Nhặt đâu mà nhặt. Thằng Tư Mắm nó vừa bảo đấy. Cái thằng coi vậy mà nhát. NÓ mới nghe hơi tàu bay
một chút, đã xuống ghe chèo đi tuốt rồi!
Từ đó đến chiều, gặp ai lão Ba Ngù cũng nói đi nói lại có bao nhiêu chuyện đó Và chuyện giữa người
trong quán cứ xoay quanh vấn đề: "Tây sắp tiến công vào đây?
Liệu chúng ta có chặn nổi không""
Vào lúc chạng vạng, trời bỗng nổi gió to. Tiếng sấm nổ chát chúa trên những vầng mây đen sì mỗi lúc
như muốn xà thấp xuống ngọn cây. Mưa bắt đầu rơi lộp độp những hạt to và nặng trên mái lá. Nhưng chỉ ào
qua một loạt rồi tạnh ngay. Lão Ba Ngù đứng trước quán, nhìn theo những làn chớp kêu:.
- Mưa đi ông! Muốn mưa thì cứ mưa đi. Sao cứ làm khó khăn cho người ta vậy?
- Nếu mưa to thì Tây còn chưa dám vào đâu, phải không anh Ba?
Dì Tư Béo lạch bà- lạch bạch như con vịt mái xiêm, ra đứng bên cạnh lão, vừa thở dài vừa hỏi phụ
họa:
- Dút khoát là mưa thì nó không dám tiến công. NÓ toàn đi giầy, gặp đất trơn trượt ngã bỏ mẹ đi. Hồi
đằng cựu (thời cần vương, văn thân khởi nghĩa) các ông rải quả mù trên lộ, Tây đi ngã lạch bạch. Thế là
dao, mác, mã tấu mình cứ xông ra chém nó như
chém chuối!
Tôi dọn rửa bát đĩa xong, không còn việc gì làm cũng ra đứng hóng chuyện bên lão. Bỗng nghe dưới
kênh có người hỏi:
- Quán dì Tư có gì nhậu không?
- À thằng Sáu tuyên truyền - lão Ba Ngù kêu khẽ.
Dì Tư Béo tức thời quát tôi:
Vào nhóm bếp lên. Con nít mà biết cái gì, lúc nào cũng chực nghe. - Và bà ta đáp vọng ra kênh: - VÔ
khối! Còn vô khối?
Tôi ngồi trong bếp vừa nhóm lửa, vừa đưa mắt nhìn ra. Nghe tiếng xuồng cập bến, khua lộp cộp. Dì Tư
Béo chạy vào cầm cây phất trần bằng cuống quài dừa nước quét lạch xạch trên bàn rượu. Chắc là có khách
sộp đây Tôi nghĩ thầm như vậy, vì nghe lão Ba Ngù dạ dạ hai ba tiếng, bộ kính cẩn lắm. Rồi thấy anh Sáu
tuyên truyền mồ hôi mồ kê nhễ nhại, tay xách một bao cà rồng công văn giấy tờ, khom người bước qua mái
giọt, vào đặt phịch cái bao lên bàn. Lão Ba Ngù khệ nệ ôm một chiếc ba-lô to tướng rằng rịt những dây da,
lấm lem bùn đất, thận trọng đi từng bước vào và sẽ sàng đặt lên chiếc chõng tre, cạnh cửa ra vào bếp.
Một người đàn ông chạc hăm sáu hăm bảy tuổi, cao lêu nghêu, mặc bộ quân phục ka-ki màu rêu, thắt
lưng da rộng bản, khẩu súng poọc-hoọc đeo trễ bên hông, tay xách đôi giày vải, tay cầm chiếc mũ vải kiểu
hướng đạo bước vào đưa mắt ngắm nghía một vòng trong quán rồi thong thả kéo ghế ngồi xuống.
Anh Sáu tuyên truyền giới thiệu với dì Tư Béo:
- Đây là ông Huỳnh Tấn, đặc phái viên của Tổng hành dinh Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, ở miền Đông
mới tới!
Dì Tư Béo chắp hai tay trước bụng cúi đầu chào, nói gì lí nhí trong mồm không nghe rõ, chỉ thấy dôi
môi run run một cách cảm động. ông khách đứng dậy, toét miệng cười, khẽ nghiêng đầu chào đáp lễ rồi nói
cách thân mật tự nhiên:
Kiến cắn bụng dữ rồi đây? Dì có gì cho chúng tòi làm ba hột cho đỡ đói cái đã...
Lão Ba Ngù buột miệng đáp ngay:
Còn nửa rá bún tươi. CÓ thể ăn với thịt bò xào lá cách. Còn nhậu thì... đâu như nhà còn mấy con tôm
càng nướng, phải không bà chị? Mà rượu hôm nay không đặng ngon?
Dì Tư Béo gật đầu lia lịa:
- Muốn ăn cơm cũng được. Tôi chịu khó nấu. Chẳng mấy thuở mà! Bắt gà làm xé phay ăn thôi.
Anh Sáu tuyên truyền vừa lau mồ hôi vừa nuốt nước bọt, giọng sốt ruột:..
- Dì muốn cho ăn thức gì cũng được. CÓ bao nhiêu cứ dọn hết ra đây. Nhưng phải gấp lên!
Lão Ba Ngù lăng xăng giúp bà chủ quán pha ấm trà, đặt lên bàn mời khách. Anh Sáu tuyên truyền bảo
tôi đem cho ảnh một ít bún tươi, rồi ảnh rút trong bao cà- ràng ra một cuộn giấy nhặt lấy hai tờ rộng khổ
nhất úp lên bàn, bảo tôi xếp bún vào.
- Chà, có khẩu hiệu gì mới hả chú Sáu? - lão Ba Ngù tò mò hỏi.
Phải Vừa lĩnh trên quận về đây. Bác kê giúp cái ghế cho tôi dán lên vách đi.
Anh Sáu tuyên truyền đứng lên ghế, đưa tờ khẩu hiệu ngắm nghía cho cân bằng hai đầu rồi từ từ dán vô
vách lá Dán xong một tờ, anh thong thả dán nốt tờ thứ hai.
Tôi cầm đèn soi lên, nhìn trân trân vào những dòng chữ khắc gỗ in mộc bản mà tôi đã đọc nhiều lần trên
các tờ khẩu hiệu dán đầy ở những nẻo đường tôi đã vượt qua.
Độc lập hay là chết Nước Việt Nam clta ngồi Việt Nam!
Anh Sáu tuyên truyền lại lôi ra một tờ giấy khổ nhỏ in chữ chì, còn thơm phức mùi mực ty-phô, dán vào
vách ngang tầm mắt người ngồi ở bàn. Lão Ba Ngù lẩm nhẩm đánh vần:
- Khờ... ông... không, đờ.. i đi... Khô. ng đi lính chờ... o cho... Không đi lính cho giặc!
Đôi mắt tròn ra, nét mặt trang nghiêm, lão Ba Ngù lần lượt vừa đánh vần vừa đọc hết những khẩu hiệu
như những lời thề viết lên bằng máu:
Không di lính cho giặc!
Không bán lương thực cho giặc Không đưa đường chỉ lối cho giặc Ai có dao dùng dao, có mác dùng
mác, mỗi người dân là một người lính, mỗi thước đất là một chiến hào, sẵn sàng hi sinh bảo vệ nền độc lập
cho TỔ quốc!
Đọc xong rồi, lão Ba Ngù lẳng lặng bước đến chỗ móc áo lấy cái áo bà ba đen của lão giũ giũ mấy cái.
Đoạn lão mặc vào, cài cả cúc cổ cẩn thận. Lão cứ đứng nhìn lên những dòng chữ đỏ chói như máu kia, hai
bàn tay vuốt đi vuốt lại những nếp áo nhăn nheo đã lâu không mặc tới.
Không biết có phải vì cơn gió to lúc nãy khiến lão bị lạnh, hay bởi lẽ nào khác tôi không được rõ. Chỉ
trông nét mặt im lặng và cử chỉ trang nghiêm của lão thì tôi thấy giống như lão đang đứng bên giường một
ngươi bệnh thập tử nhất sinh. Kinh nghiệm ở những nơi khác thì với tình hình này, chắc chắn là chỉ trong
vòng một tuần lễ nữa thôi, giặc Pháp sẽ tiến tới đây...
Trời ơi, mày có bưng đĩa thịt bò ra giùm tao một chút không. Làm gì mà đứng chết gí ngoài đó vậy? - đì
Tư Béo trong bếp eo éo gọi vọng ra.
Tôi giật mình chạy vào, suýt nữa ngã bổ xuống ngạch cửa. Lão Ba Ngù không vào giúp tôi một tay như
mọi khi, lão lặng lẽ ra đứng trước bến hút thuố...
Đoàn Giỏi
www.dtv-ebook.com
Chương 1
Có lẽ từ hôm bước lên xóm chợ này, mình đã bắt đầu cuộc sống lưu lạc rồi chăng Những đêm giật mình
thức giấc nằm nghe tiếng gió rít thê lương từ các cánh đồng xa mông quạnh và lắng nghe tiếng nước chảy
ào ào dưới chân cầu nước (Bậc thang bắc ra sông để giặt giũ hay lấy nước) bắc ra con kênh thẳng tắp chạy
dài vô tận trước ngôi chợ này, tôi vẫn thường vơ vẩn nghĩ như vậy C
Tôi lạc tới xóm chợ này, tính ra đã có hơn nửa tháng.
Một buổi tối, đoàn thuyền vận tải quân lương của Uy ban kháng chiến Nam BỘ đỗ lại đây. Anh học sinh
trường côle người trong ban tiếp tế đã cho tôi theo thuyền từ Hậu Giang đến đây bảo tôi: "Chỉ ghé lại độ
nửa giờ cho các chú lên chợ mua thức ăn. CÓ muốn lên bờ không?.
Tôi lắc đầu. Anh bèn vỗ vai tôi cười lớn: "Vậy thì tốt quá, ngồi lên mui ngó lên bờ chơi cũng được.
Trông chừng đồ đạc em nhé!" Anh lần theo cây đòn dài bắc sang một chiếc thuyền khác, và lẹ làng như con
sóc, co người trèo qua be mấy chiếc tam bản, mấy chiếc xuồng nhỏ của những người đi chợ đậu ken dọc
theo bến rồi nhảy phóc lên bờ.
- Đừng đi đâu nhé Uống cà phê xong anh sẽ xuống cho chú mày cái bánh! - anh xốc khẩu súng mô-de
đeo bên hông, vẫy vẫy tôi và rướn hai chân, cố nói thật to để cho tôi nghe thấy.
- Rồi! Nghe rồi... Anh cứ đi đi! - tôi bắc tay lên mồm đáp lại.
Tôi ngồi đong đưa hai chân trên mui chiếc thuyền chở gạo ngóng lên chợ. Đèn măng-sông trong các
hiệu buôn, các tiệm ăn của người Hoa kiều thắp lên sáng rực. Chỗ khoảng sân rộng, những ngươi đàn bà
nông dân mặc quần áo bà ba đen, khăn rằn đen vắt chéo qua vai ngồi xếp từng dãy dài sau những chiếc cần
xé to tướng, những chiếc thúng đựng đầy ắp không trông rõ và không biết đó là thứ gì mà họ mang ra chợ
bán. Mỗi người bán hàng đều thắp một ngọn đèn con Ơû chỗ mình ngồi. Và những người đi chợ, cũng có
nhiều ngươi cầm theo trên tay một ngọn đèn.
Đèn người mua, đèn người bán cứ như sao sa.
Từ trong đám người ồn ào và những ánh lửa đèn luôn luôn cử động Ơû tít chỗ cuối chợ, bỗng nổi lên
bốn đầu ngọn đuốc cháy đỏ rực cùng với tiếng trống, tiếng thanh la khua rung dồn dập.
- Hát Sơn Đông, chúng mày ơi?
- Lại coi con bé nhào vòng lửa đi!
Mau lên, chúng mày ơi!
Bọn con nít từ khắp các ngõ ngách, từ trong các chỗ tối, từ dưới thuyền dưới xuồng chèo lên, ba chân
bốn cẳng reo hò chạy về chỗ đám hát rong. Tự nhiên hai chân tôi cũng ngứa ngáy muốn tuôn theo. Đã bắt
đầu nghe tiếng loa của người Khách mãi võ giới thiệu các môn trình diễn, và tiếng vỗ tay hoan hô cua đám
người xem vây quanh.
Tôi kiễng chân lên coi họ làm gì đằng ấy. Xa quá, chỉ thấy đầu ngươi lô nhô và mỗi lúc lại nghe tiếng
cười khoái trá dậy lên. lâu nay mình xem chán rồi. Còn lạ gì cái thứ trò ấy?" Tôi tự nhủ thầm như vậy và
khinh khỉnh nhìn về đám người huyên náo để nén sự thôi thúc cứ dồn trống trong ngực.
- Thằng An còn ngồi đấy không? - bác tài công già cầm xâu thịt và một mớ rau cải vừa bước lên đòn
dài vừa hỏi, giọng ồm ồm.
Cháu còn đây, bác ơi! - tôi vội đáp, bụng hơi rạo rực.
- Nè, mà mày muốn coi hát Sơn Đông không - bác lại hỏi.
- Các anh bảo cháu Ơû đây coi chừng thuyền.
Bác tài công vứt sâu thịt vào cái rổ, vặn lưng uốn xương sống nghe rắc rắc, hơi thở nặc nồng mùi rượu:
Ê! mày đã ăn thịt nai xào cải rổ chưa? Sáng mai tao cho mày ních một trận, phải biết nhá! - rồi bác cười
lớn:
Tao đã đi khắp ngọn nguồn sông lạch mà chưa thấy ai mập như con mẹ chủ quán này. NÓ rót luôn cho
tao năm ly rượu tấm bồng mắt thỏ mà không nhậu ra ngoài một giọt chớ - Bác có lên chợ uống cà phê
không? - Tôi hỏi.
- Tao mà cà phê cà pháo gì mậy? ờ, mà các chả đang làm cà phê trong cái quán chỗ đám hát Sơn Đông
đó?
Thôi, có tao Ơù đây rồi. Cho mày lên chợ chơi một lát. Nhớ đường trở xuống bến không Đừng có đi
đâu xa, coi chừng lạc Trời ơi, một thằng bé từ lọt lòng mẹ đến giờ sống ở thành phố như tôi mà có thể lạc
trong cái chợ nhỏ xứ quê này? Tôi cười thầm trong tối, từ trên mui gieo người nhảy độp xuống sạp thuyền.
- Cười gì đó mậy, An? - bác chướng mắt hỏi tôi.
- Không. Cháu có cười gì đâu - BỘ mày tưởng tao say hả? ê, tao còn thấy cái bông bần (một loại cây
mọc ven mé sông còn gọi là thuỷ liễu) trôi giữa kênh kia nhá!... Chà, nước giật ròng rồi.
Cháu lên đây, bác ạ!
Không chờ nghe bác ừ, thoáng cái, tôi đã đặt chân tới bờ. Chao ôi Chợ gì mà lạ lùng thế này? BỘ Tây
sắp đánh tới nơi, nên người ta đem vườn bách thú ra phát mãi hay sao! Một con ba ba to gần bằng cái
nong, đặt lật ngửa, cứ ngọ nguậy bơi bơi bốn chân trước ông cụ già ngồi lim dim đôi mắt. Những con rùa
vàng to gần bằng cái tô, đều tăm tắp như đổ Ơû cùng một khuôn ra, nằm rụt cổ trong mấy chiếc giỏ cần xé.
Đây là một con nai người ta vừa xẻ thịt ra bán, cái thủ còn nguyên chưa lột da bày giữa đống thịt đỏ hỏn
trên một tấm lá chầm. Cua biển cũng có, ếch cũng có nghêu sò cũng có. Còn cá tôm thì nhiều lắm, đủ các
loại tôm, không kể xiết. Tôi bước thêm mấy bước, qua những đống trái khóm chín vàng tỏa thơm mùi mật,
thấy hai con trút nằm khoanh, vảy xếp lại như những đồng hào lấp lánh. CÓ tiếng chim gì mổ nhau kêu
quang quác trong chiếc lồng kẽm chỗ tối tối: ngọn đèn vừa bị cánh chim đánh nhau quạt tắt, và người chủ
bán chưa kịp thắp lên. Một chú khỉ con cứ nhảy qua nhảy lại lia lịa, chờn vờn trèo lên đống bí ngô. Thấy
tôi đi qua, nó nhe răng khẹc khẹc, ngó tôi rồi quay lại nhòm người chủ, dường như muốn bảo tôi hỏi giùm
tại sao cái lão rậm râu kia không thả mối dây xích cổ ra để nó được tự do đi chơi như tôi... Đằng chỗ đám
hát rong, một tràng pháo nổi lên vang dậy. Tôi chẳng còn tâm trí đâu mà nhìn ngó chung quanh nữa. Tôi lại
ba chân bốn cẳng nhắm mắt nhắm mũi lao về phía tiếng ồn ào đang có một sức cuốn hút không cưỡng
được.
"Mình chỉ coi một chút thôi!" Tôi nghĩ bụng và đưa mắt nhìn vào trong ngôi quán cà phê nhỏ núp dưới
tán cây bã đậu chôm chôm những gai. Cái lưng gù gù anh học sinh trường côle lấp ló qua vai những người
dân quân tự vệ đội nón bàng rộng vành thả trễ sau gáy. Tôi muốn vào báo cho anh biết tới đã lên đây,
nhưng bụng phân vân:
, Lỡ ảnh bảo xuống thuyền thì sao?... ừ, mà mình chỉ cần coi qua một chút thôi mà?"
Chen đâu mà chen dữ vậy hả? - một thằng bé lùn lùn, béo ục ịch, trợn mắt hích khuỷu tay vào hông tôi.
- Cho tao coi một chút mà!
Nghe tôi nói bằng một giọng nhường nhịn, thằng bé tức thời nép người qua để cho tôi lách vào, rồi nó
nhe răng cườl làm như tôi với nó đã quen từ hồi nào.
- Mày mới tới à? Hồi nãy vừa diễn trò hai con khỉ kéo xe mê lắm?
ừ, mình mới tới! - tôi đáp cho có đáp, không còn chú ý nghe nó kể những gì bên tai nữa.
Người khách mãi võ mặc quần áo chẽn màu đen đã bán qua một lượt thuốc cao, bắt đầu giới thiệu tiết
mục "Em bé mười tuổi nhào qua vòng lửa - Trò này đêm qua nó diễn rồi. Không thể tả được mà!
- thằng bé lùn lùn béo ục ịch lại rỉ tai tôi, giọng đầy tự hào về cái chuyện nó đã được xem trước tôi.
Một em bé vận bộ quần áo bằng xa tanh màu đỏ, tóc tết quả đào, mang đôi hài vải đen bước ra, cúi
chào khán giả Chiếc vòng sắt quấn giẻ tẩm dầu lồng giữa một khung gỗ hình chữ nhật, dựng đứng cỡ ngang
tầm mắt tôi, bày giữa hiện trường. Dứt loạt vỗ tay chung quanh, người Khách già cầm ngọn đuốc châm vào
chiếc vòng quấn dẻ. Tức thời một vầng lửa hình trong như chiếc bánh xe lửa của Na-tra (Một nhân vật
trong truyện "phong thần" trung quốc) phực cháy vù vù. Em bé lại nghiêng đầu chào mọi người rồi dún
chân một cái, chạy tới ba bước gieo mình như một con thoi bay qua vòng lửa.
Mắt tôi hoa lên, chỉ còn thấy cái bóng đỏ lao qua lao lại xuyên ngang vầng lửa, và hai tai tôi ù đi vì
tiếng reo hò, tiếng vỗ tay vang dậy- Đêm qua, nó nhào sáu lần mà bữa nay nó tăng lên tới tám lần! Mày thấy ghê chưa? - thằng bé lùn lùn
béo ục ịch hích tôi, vênh mặt nói.
Trong lúc người Khách cầm mấy chai rượu thuốc đi vòng quanh chào hàng thì em bé vừa đứng thở vừa
đưa hai bàn tay nhỏ phủi phủi những sợi tóc cháy trước trán.
Dáng như đêm nay số thuốc bán được ít ỏi quá. Người Khách mặt buồn buồn, đặt mấy chai rượu thuốc
lên cái rương lớn màu đen, cố làm ra vẻ tươi tỉnh:
- ông bà cô bác xem xong trò này, rồi hẵng mua giùm sau cũng dược. Hầy? Tả lồ lên (đánh thanh la
lên)"
Tiếng trống, tiếng thanh la lại khua rung dồn dập.
ông ta cầm một nắm dao con sáng loáng tung lên bắt từng chiếc một, rồi lần lượt cắm tất cả mười hai
con dao ấy vào những khe hở đục trong cái vòng sắt còn dang rừng rục lửa. Những mũi dao nhọn hình lá
trúc đào lấp lánh ánh thép trắng xanh tua tủa chĩa ngược vào trong, càng làm thu hẹp cái khoảng tròn ban
nãy vừa đủ một thân mình ngươi chui qua. Ngươi Khách xiếc nhìn mấy người đánh trống đánh thanh la, ra
hiệu ngừng tay. ông ta nhường mắt hét lên một tiếng, rùng mình thu người lại và lập tức dún chân bay qua
giữa nhũng mũi dao tua tủa. Tôi nhắm mắt lại. Trời ơi! Chỉ nhích ra một phân, bất cứ Ơû phía nào thì
những mũi dao sắc nhọn như gươm kia cũng đâm xóc lút vào da thịt. ông ta lao đi lao lại ba lần như vậy
mà trông sắc mặt và hơi thở không chút biến đổi.
- Người lớn làm không hay. Em bé làm mới hay? - người Khách vung tay giới thiệu.
Em bé gái bước ra, nghiêng đầu chào mọi người. Hai bàn chân đi đôi hài vái đen nhỏ xíu khơi động
giẫm lên giẫm xuống một chỗ trên mặt đất lởm chởm những hòn cuội Tôi hồi hộp qua. Đôi môi em bé run
run. RÕ ràng là nó đang cố trấn tĩnh trước phút biểu diễn cái trò vô vùng nguy hiểm này.
CÓ ba Ơû đây, con? - người Khách nói bằng giọng khuyến khích vui vẻ, nhưng cặp mắt ông ta trông
nghiêm nghị đáng sợ.
Em bé tức thời hét lên một tiếng như bố, dún chân bay xuyên qua giữa vòng dao rực cháy. Chung quang
im phăng phắc. Mọi ngươi không kịp vỗ tay. CÓ lẽ vì sự thán phục cùng với nỗi lo sợ thay cho em bé cùng
một lúc ập vào làm choáng ngợp mọi trái tim người. Em bé lao qua vòng dao lần thứ nhất, rất dễ dàng. Em
lại mím môi lao qua lần thứ hai. Đến lần thứ ba, thì một tiếng thét kinh hoàng của những người xem nổi lên
chung quanh tai tôi.
Em bé đã ngã bổ xuống bàn chân phải mắc vào một mũi dao.
Người xem chạy ùa vào. ông Khách già ôm ngang lưng con gỡ chiếc hài đen ra khỏi mũi dao. Một dòng
máu đỏ từ trong vết thương bàn chân em bé tuôn ra như suối.
Không hề gì mà! Dán một lá thuốc cao, khỏi ngay thôi? - ông Khách vùa nói vừa rắc một ít thuốc cầm
máu màu đen để hàn miệng vết thương, và trao đứa con gái cho một bà xẩm vác đưa xuống chiếc thuyền
đậu trong một con kênh gần đấy.
Bọn trẻ nhỏ ùn ùn chen lấn chạy theo coi. Mặc dầu đám hát vẫn tiếp tục biểu diễn, nhưng tôi không còn
lòng đã nào xem nữa. Tôi cũng chạy theo đám trẻ, lần xuống mé sông đứng ngó vào thuyền.
Em bé ngồi tựa lưng vào mui, đôi mắt to đen láy nhìn xuống vết thương trên mu bàn chân đã được bó
một lá thuốc cao. Không thấy máu chảy nữa. Nhưng bàn chân cứ run run, lâu lâu lại giật một cái, khiến em
nhắm mắt lại Bà xẩm cầm ngọn đèn soi vào chân con, tròng mắt đỏ hoe.
- Con có đau lắm không, con?
Em bé nhắm nghiền mắt, hai tay bóp chặt trên ống chân, lắc lắc đầu. Một giọt nhóc mắt người mẹ rơi
xuống bàn chân nhỏ của đứa con đau. Em bé mở choàng mắt ra, hốt hoảng nhìn mẹ, như vừa bị một giọt
nước sôi rơi trúng vào chân.
- Ơ không có làm sao đâu, má à? Buốt buốt một tí thôi!
Vừa nói, cô bé vừa quờ tay ôm ngang lưng mẹ và cố nhoẻn cười cho mẹ yên lòng. Nhưng sau đó một
chốc, em lại nhắm mắt lại. Mấy giọt mồ hôi rịn rịn ra trên vầng trán nhỏ. Tôi biết chắc chắn rằng em bé
đau lắm. Tôi không dám đứng nhìn nữa, bèn trở lên chợ.
Bấy giờ đám hát cũng vừa tan. Tôi sực nhớ ra là mình đã di lâu quá. Tôi liền chạy vào quán cà-phê.
Không thấy anh học sinh côle dâu. Tôi nhằm hướng đầu ngọn cây bàng khô, chạy một mạch về. Đoàn
thuyền vận tải quân lương không còn chiếc nào đậu Ơû đó nữa. Tôi chạy dọc theo bến chợ một quãng, hi
vọng họ vừa rời di, mình còn có thể đuổi theo kịp.
Trời tối quá. Lửa đèn trên sông dần dần thưa thớt. Chợ cũng đã tan rồi. Tôi trèo lên một đống gạch,
đứng ngóng theo làn nước lấp loáng ánh sao xuôi xuôi trên dòng kênh không biết chảy về đâu. Một người
đàn bà quảy đôi thùng xuống bến lấy nước, đứng lại nhìn tôi hồi lâu rồi hỏi:
Có Phải mày Ơû trong đoàn thuyền vận tải không?
- Dạ phải! - tôi vội đáp, bụng hơi mừng - HỌ đi dâu rồi dì?
- Trời ơi? Mày đi đâu mà họ tìm mày khắp cả chợ? HỌ đi rồi. Đi từ tám hoánh nào rồi! Nhổ sào từ hồi
nước mới ròng. Và người đàn bà chép miệng: - Chà, chừng như họ được lệnh đi ngay hay sao ấy. Gấp lắm
thì phải!
- Dì có nghe họ nói đi đâu không - tôi hỏi lại.
- Chuyện quân sự mà, biết sao lọt! Thế mày cũng không biết à? HỌ không nói với mày à?
- Không, dì ạ!
- Mày có ba má, anh em gì trên thuyền không?
- Không. Cháu đi quá giang thôi.
Người đàn bà chành môi ra dài giọng:
Thảo nào?... Người ta có việc của người ta chứ. Ai bảo cứ ham chơi, đi những đâu?.
Người đàn bà không nói gì nữa, lẳng lặng xuống sông gánh nước lên chợ. Tự nhiên tôi thấy trong lòng
mình rưng muốn khóc...
Ban ngày tôi thẩn tha đi dọc theo bến, mong có gặp người nào quen trong đoàn thuyền vận tải quân
lương trở lại đây không. Ban đêm tôi, tôi vào ngủ trong chợ, chui dưới gầm một thớt bán thịt lợn của người
Hoa kiều.
Nhũng người đàn bà trong chợ gọi tôi là thằng bé tản cư. Nghe đâu hồi tháng trước, chợ này chỉ họp
buổi sáng. Hơn tháng nay, chợ nhóm suốt ngày, có đêm mãi chín mười giờ khuya mới tan. Người tản cư Ơû
các vùng trên đổ xuống ùn ùn như nước. Mặt nước dòng kênh không mấy lúc ngớt tiếng khua động mái
chèo. Cái chợ con nằm trên ngã ba kênh của xứ làng quê hẻo lánh này trở nên đông vui nhộn nhịp như một
trấn nhỏ. Người từ Sài Gòn chạy xuống tới đây cũng có. Người vùng Tiền Giang, Hậu Giang cũng có.
Nhiều con mụ đàn bà mặc áo lụa trắng rô-dê (tiếng pháp có nghĩa là thêu ), che dù đầm, núng na núng nính
rén bước đi lên chợ, mắt cứ ngó xuống chân dép xăng-đan, sợ bùn đất vấy gấu quần. Tiền bạc đựng nứt ví,
nhưng mua gì cũng chê ỏng chê eo, trả giá rẻ mạt. Tôi chỉ nghe họ than phiền với nhau rằng: Cánh mình dở
quá, không chặn nổi Tây", rằng "chạy vào đây không có nước đá uống, không có nước ngọt tắm". Thấy tôi
lảng vảng đến gần chỗ thuyền họ, họ nhìn chòng chọc vào tôi, bộ như muốn ăn thịt: ê đi đi, thằng nhỏ. MÒ
mẫm toan an cắp hả?" Tôi ức đến muốn khóc. CÓ ai quen, gặp tôi bây giờ cũng không nhận ra tôi nữa đâu.
Ngồi bó gối trên cầu nhìn xuống nước, chính tôi cũng khó nhận ra mình trong cái hình thù quái dị này. Tóc
tôi mọc dài gần phủ gáy, hai quầng mắt hõm sâu, cổ gầy nhom như cổ cò ma. Chiếc áo vét tông bằng ka ki
trắng của anh học sinh côle cho tôi, giờ đây đã biến thành màu cháo lòng, vạt áo phủ xuống tận gối, cứ kêu
loạt xoạt theo mỗi bước đi. Còn chiếc quần đùi bằng vải len của tôi thì bạc phếch ra, hai ống rách te tua
như bị cá chốt rỉa.
Ai nhờ việc gì, tôi cũng giúp. Mấy thím bán cá nhờ tôi khiêng thúng mủng, xách nước cho họ thay nước
rộng cá.
Em bé? Vác cho qua (tiếng xưng tôi thân mật của người có tuổi) bó mía đi!
- Em bé? Đội thúng tôm lên chợ giúp dì đi.
Nhỏ? Nhỏ! Chạy xuống mé kênh cắm lại cây sào của dì sắp trôi kia!
Kẻ cho tôi nắm xôi, người cho tôi gói bắp. Không ai biết tôi từ đâu trôi dạt tới.
Ngày nào tôi cũng tạt qua trước ngôi quán rượu một lần. Biết đâu bác tài công già hôm nọ chẳng qua
ngang mà ghé lại đây?
Những ngày đầu mùa mưa năm 1946 cứ ì ạch nặng nề lê đi từng bước khó khăn như ngươi đàn bà sắp
Ơû cữ cứ trở dạ mãi mà vẫn chưa đẻ được. Ở cái vùng nước mặn miền tây Nam bộ này, người ta mong
mưa như bọn trẻ con chúng tôi mong mẹ về chợ. Mưa có nước ngọt uống, có nước cầy bừa, nhưng điều
quan trọng nhất trước mắt, là mưa có thể làm chậm bước của địch trong các cuộc tiến công, gây trở ngại
cho chúng trên các nẻo đường hành quân vì trơn tuột, sình lầy.
Trời càng sắp mưa thì càng oi bức khó chịu, ban ngày mặt trời đổ nắng chang chang, nóng như giội lửa.
Chỉ khi đêm đến mới có đôi chút gió lao xao từ vùng vịnh Thái Lan thổi tới. Thường thường, đêm nào
người trong chợ cũng xách chiếu ra ngồi dọc bờ kênh hóng mát, coi thuyền tản cư và thuyền chở Cộng hòa
vệ binh (tổ chức chính quy của quân đội sau ngày nam bộ cướp chính quyền 1 trong 4 sư đoàn dân quân
cách mạng nam bộ) từ mạn trên trẩy xuống. Quán rượu của dì Tư Béo là nơi tụ họp của những người thức
khuya nhất, có khi đến một hai giờ sáng hãy còn đỏ đèn và ran tiếng nói cười.
ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM
Đoàn Giỏi
www.dtv-ebook.com
Chương 2
Trong Tửu Quán
Tôi thường lân la đến quán dì Tư Béo, bởi lý do mong gặp người quen. Nhưng còn một lẽ khác nữa, là
Ơû đó, tôi có thể nghe đủ mọi thứ chuyện trên đời. Việc gì vừa xảy ra Ơû bất cứ xó hẻm nào quanh chợ,
lập tức trong quán dì Tư Béo mọi ngươi đã biết ngay. Từ những tin nóng hổi Ơû mặt trận Vàm Xáng như...
một chiến sĩ ta bị thương, khúc ruột lòi ra, anh lấy tay nhét vào, không rên một tiếng", cho đến chuyện "ông
TỔ sư BỒ đề truyền dạy phép màu cho Tề Thiên Đại Thánh như thế nào... " tôi đều có thể nghe được Ơû
đây.
T
ĐÓ là một ngôi quán nhỏ xệch xạc, trống trước trống sau, cất dựa bên bờ kênh dưới bóng một cây gáo
cổ thụ.
Mái lá rách thủng lô chỗ, ban ngày nắng soi xuống mặt chiếc bàn dài, thả những bóng trứng vịt xuống
bên mâm người ngồi nhậu, và ban đêm, người ta có thể uống cả một vì sao xanh rơi trong lòng cốc.
Quán rượu dì Tư Béo nối tiếng về thứ rượu tăm ngọt giọng, phảng phất mùi cháy khê nồi mà không nhà
nào cất được, về tài xào nấu các món thịt rừng mà các lão già cũng hay bông phèng đã nức nở khen rằng
"nhắm xong một miếng, thấy người phấn hứng, trẻ tráng ra ngay".
Nhiều người tin như vậy. Chứ như tôi, tôi nghĩ rằng những người lui tới nơi đây là bởi tự thói quen cố
hữu của họ. Mà bà chủ quán vốn là một người đãi bôi xởi lởi, không bao giờ để phật lòng bất cứ một ông
khách nào dù khó tính đến đâu. Duy chỉ có một điều mà ai cũng biết nhưng cũng chẳng ai nói ra, là trong sự
dễ dãi hào phóng của bà ta, dù thế nào thì thế, một đồng xu cũng không lọt được qua cánh tay nhờn nhầy
bóng mỡ của bà, vì bà không để mình chịu thiệt với ai bao giờ. Chẳng vậy mà một hôm, bà ta đã bảo tôi:
"Tao thấy mày sống hổm rày ở chợ này như con chó hoang. Tội quá! về đây mà ở, tiếp giúp tao việc vặt
trong quán. Mày sẽ tha hồ ăn, tha hồ uống. Còn như công xá. Bà ta im lặng một lúc, sụt sịt mũi; "Nói
chuyện công xá, hóa ra cháu ở đợ cho dì sao? Dì có một thân một mình. Dì coi cháu như con thôi. Mẹ con
mà tính chuyện tiền bạc thì còn ra cái nghĩa gì Tôi đứng lặng đi một lúc lâu, bàng hoàng không biết đáp ra
sao. Trước mắt tôi, dòng kênh xanh ngắt lặng lẽ chạy hút vào chân trời. Một cánh buồm nhỏ xíu bồng bềnh
trên khói nước, ở một nơi nào xa lắm, đôi khi không trông rõ, dường nửa thực nửa hư. Quay nhìn về hướng
quê nhà, chỉ thấy mây trời đùn cao như núi. Ngày mai tôi sẽ đi về đâu sống ra sao, tôi chưa biết. Tôi chẳng
ở đây thì còn đi đâu nữa? Tôi gật đầu, chẳng nghĩ ngợi gì.
- Vâng. Cháu sẽ ở đây với dì!
Tôi trở thành thằng nhỏ hầu rượu trong quán dì Tư Béo bắt đầu từ hôm đó.
- Cầm hào bạc đây, ra chợ mà cắt tóc ngay đi - bà ta vừa truyền lệnh cho tôi, vừa tháo mấy cây kim
băng cài miệng túi áo chích đưa lên ngậm ngang mồm, và móc từ trong miệng túi thâm đen vì bẩn mỡ ra
một nắm giấy bạc, nhặt một tờ hào dúi vào tay tôi.
Khi tôi cắt tóc xong, trở về quán thì thấy bà ta lúi húi ngồi khâu bên rổ may.
Lại ướm thử cái quần đùi coi nào. Dì khâu cho mày đấy Bà ta đứng dậy, cầm mảnh lụa đen vừa cắt từ
ống quần dài cũ của bà chỉ cần khâu một đường lưng và một đường khoét đáy là thành một chiếc quần đùi.
Tôi mặc thử, thấy hãy còn quá rộng.
Cầm bánh xà phòng thơm của dì, xuống bến tắm đi.
Rồi lên mà mặc quần mới, con? - bà ta ngọt ngào bảo tôi.
Bà ta nói với tôi rất ít,? lời lẽ dịu dàng, nhưng mỗi câu là một mệnh lệnh. Sau khi tắm rửa xong, tôi vội
mặc chiếc quần lụa đen ngắn vào. Bà ta ngồi nheo mắt, cười.
làm rung rung hai tảng mỡ của đôi gò má bóng nhẫy, ngắm tôi hồi lâu.
- Tươm da! Sạch sẽ thơm tho nhưvậy mới có thể hầu khách được. Chứ đứng gần người ta mà hôi như cú
thì họ gõ chai lên đầu biết không" Mà trông mày mặt mũi cũng sáng láng đấy. CÓ chữ nghĩa gì bỏ túi
không?
Dạ, cháu đã đỗ xép-phi-ca (Tiểu học) tháng sáu năm ngoái.
- Thiệt chứ? Trời, thằng này giỏi đa? Mới mười bốn mười lăm tuổi mà đã dỗ phi-ca thì giỏi lắm. ờ, hồi
tao còn con gái, có một ông giáo phica chú ý đến tao, nhưng duyên trời không định: Chà, ngày xưa đỗ phica là đã nên ông nọ ông kia rồi. Khổ cho mày, gặp thời buổi loạn ly!...
Thế ba má cháu đâu?
- Dạ, ở xa lắm! - tôi đáp một cách miễn cưỡng..
Thấy tôi không muốn nói, bà ta cũng thôi không hỏi. Bà ta vốn là người khôn ngoan, lịch thiệp và từng
trải, luôn luôn đoán trước ý mọi người, biết lúc nào nên nói, lúc nào nên không và nên chấm dút câu
chuyện ở chỗ nào. Điều này, tôi nhận ra trong những đặc tính của bà ta chỉ qua vài ngày sau thôi.
Kể ra thì khách rượu của quán rượn dì Tư Béo không thiếu hạng nào. Những tay vô công rồi nghề, la cà
ngồi tán dóc suốt ngày cũng có. Những người tản cư, cắm thuyền tạt lên uống chén rượu rồi quảy qua đi
ngay cũng có. Bọn con buôn vào ngồi chỉ cốt lấy chỗ gặp gỡ, trao đổi luồng hàng đương khan hiếm và để
kiếm món xào nướng khoái khẩu hơn là vì cần nên đôi khi, một vài người lính Cộng hòa vệ binh có tuổi lén
rời chỗ trú quân vào làm một cốc rượu khan, trước khi ra khỏi quán cứ đưa ống tay áo chùi ria mép và dặn
đi dặn lại tôi: "Này, chú em, hễ có ban chỉ huy đến hỏi thì nói không có ai tới uống rượn đây cả nhé! Nhớ
nhé ".
Chỉ trong vài hôm, tôi đã quen mặt hầu hết những đệ tử Lưu Linh của xóm chợ này. Nhưng trong đám
người thường lui tới đây, tôi chỉ đặc biệt chú ý có hai người.
Một là lão Ba Ngù. Dường như lúc nào cũng có lão túc trực trong quán. Nói cho đúng thì lão ta cũng
không phải là tay mạnh rượu. Nhưng lão có thể lai rai uống được suốt ngày. Những chuyện tiếu lâm, những
chuyện giang hồ mã thượng lão kể đi kể lại với mọi người, tôi nghe đến thuộc làu những vẫn thích nghe.
Bởi mỗi lần kể, lão thường hay thắt thêm vào những chi tiết bất ngờ khiến tôi phải cười bò ra; hoặc cũng
có một đôi chỗ mà lần trước kể dài dòng, lão đã biết khéo léo thu vén bỏ đi cho câu chuyện thêm tròn
trĩnh, dễ nghe hơn. Những lúc đông khách, lão đứng dậy nhường chỗ cho người mới tới. Đôi khi lão còn
bưng hộ bát thừa giúp bà chủ quán. Dì Tư béo mến lão vì cái tài đưa chuyện và giữ khách không công của
lão, nên thỉnh thoảng bà ta cũng đãi lão cút rượu kèm theo một con khô cá lạt nướng. Ai mời rượu. lão đều
uống, không từ chối. Nhưng chỉ uống một chén con cho vui bụng ngươi ta thôi. Không bao giờ lão uống đến
chén thứ hai. "Mình là người biết tự trọng. Mình có phải là thằng già nát rượn đâu? " Lão thường lè nhè
nói một mình như vậy Cứ mỗi người một chén rượu mời, mỗi ngày đêm lão Ba Ngù có thể uống tính ra đến
một, hai lít? Lão luôn luôn cởi trần, áo chỉ dể vắt hờ bên vai, bảo: "Để vầy cho nó mát". Lão chỉ mặc độc
chiếc quần đùi: da mặt, da lưng đỏ như cua luộc. Dường như bấm vào bất cứ chỗ nào trong thân hình lão
cũng có thể chảy rượu ra ngay được...
ĐÓ là người thứ nhất.
Người thứ hai là Tư Mắm. Không biết y ở đâu, tên thật là gì. Chỉ biết rằng y thường chở mắm lóc, mắm
trê đôi khi chở cả dừa khô và bí rợ trong một chiếc ghe lườn bán dọc theo các xóm bờ kênh, nên đồng bào
gọi y là Tư Mắm. Còn người đàn bà chạc ba mươi tuổi mà Tư Mắm bảo là vợ y không mấy khi bước lên
bờ. có lần, tôi nghe thấy lão Ba Ngù che tay lên miệng bảo với dì Tư Béo: "Chà, bộ thằng Tư Mắm có ngải
hay sao mà nó chài được con nỡm đẹp quá. Không phải vợ hắn đâu. Dứt khoát là không phải bà chị ạ "Tư
Mắm ngươi dong dỏng cao nước xanh mét, tóc cắt bom-bê, mái tóc trước trán rủ xuống tận gò má bên phải.
Đôi mắt y rất bé và sắc lạ lùng, tròng mắt đảo đi đảo lại rất nhanh và không hề nhìn thẳng vào ai bao giờ.
Một buổi sáng, lúc tôi đang bưng rổ tôm càng xanh từ chợ về thì nghe tiếng tàu bay vè vè từ hướng Sóc
Trăng lượn đến. Người trong chợ xô nhau nhạy toán loạn.
Chiếc tàu bay đảo hai vòng trên xóm Ngã Ba Kênh, bay rất chậm nhưng thật cao, nghiêng qua nghiêng
lại quan sát rồi thả xuống một đống truyền đơn. Những tờ truyền đơn tủa ra, bị gió cuốn đi bay về mạn rừng
tràm cách chợ có đến vài ngàn thước. Không biết bọn giặc nói gì trong ấy Nhưng khi tôi về đến quán thì
gặp ngay lão Ba Ngù đứng chửi oang oang:.
- TỔ cha thằng Tây. Mày đánh thì xuống đây Chứ bay trên trời thả giấy xuống thì cũng chưa gọi là bảnh
Lão níu rổ tôm của tôi lại, hỏi:
Mày có nhặt được tờ nào đút trong này không Không - tôi dáp.
Truyền đơn nó kêu gọi Việt Minh đầu hàng đấy!
Sao bác biết? Bác nhặt được à?
Nhặt đâu mà nhặt. Thằng Tư Mắm nó vừa bảo đấy. Cái thằng coi vậy mà nhát. NÓ mới nghe hơi tàu bay
một chút, đã xuống ghe chèo đi tuốt rồi!
Từ đó đến chiều, gặp ai lão Ba Ngù cũng nói đi nói lại có bao nhiêu chuyện đó Và chuyện giữa người
trong quán cứ xoay quanh vấn đề: "Tây sắp tiến công vào đây?
Liệu chúng ta có chặn nổi không""
Vào lúc chạng vạng, trời bỗng nổi gió to. Tiếng sấm nổ chát chúa trên những vầng mây đen sì mỗi lúc
như muốn xà thấp xuống ngọn cây. Mưa bắt đầu rơi lộp độp những hạt to và nặng trên mái lá. Nhưng chỉ ào
qua một loạt rồi tạnh ngay. Lão Ba Ngù đứng trước quán, nhìn theo những làn chớp kêu:.
- Mưa đi ông! Muốn mưa thì cứ mưa đi. Sao cứ làm khó khăn cho người ta vậy?
- Nếu mưa to thì Tây còn chưa dám vào đâu, phải không anh Ba?
Dì Tư Béo lạch bà- lạch bạch như con vịt mái xiêm, ra đứng bên cạnh lão, vừa thở dài vừa hỏi phụ
họa:
- Dút khoát là mưa thì nó không dám tiến công. NÓ toàn đi giầy, gặp đất trơn trượt ngã bỏ mẹ đi. Hồi
đằng cựu (thời cần vương, văn thân khởi nghĩa) các ông rải quả mù trên lộ, Tây đi ngã lạch bạch. Thế là
dao, mác, mã tấu mình cứ xông ra chém nó như
chém chuối!
Tôi dọn rửa bát đĩa xong, không còn việc gì làm cũng ra đứng hóng chuyện bên lão. Bỗng nghe dưới
kênh có người hỏi:
- Quán dì Tư có gì nhậu không?
- À thằng Sáu tuyên truyền - lão Ba Ngù kêu khẽ.
Dì Tư Béo tức thời quát tôi:
Vào nhóm bếp lên. Con nít mà biết cái gì, lúc nào cũng chực nghe. - Và bà ta đáp vọng ra kênh: - VÔ
khối! Còn vô khối?
Tôi ngồi trong bếp vừa nhóm lửa, vừa đưa mắt nhìn ra. Nghe tiếng xuồng cập bến, khua lộp cộp. Dì Tư
Béo chạy vào cầm cây phất trần bằng cuống quài dừa nước quét lạch xạch trên bàn rượu. Chắc là có khách
sộp đây Tôi nghĩ thầm như vậy, vì nghe lão Ba Ngù dạ dạ hai ba tiếng, bộ kính cẩn lắm. Rồi thấy anh Sáu
tuyên truyền mồ hôi mồ kê nhễ nhại, tay xách một bao cà rồng công văn giấy tờ, khom người bước qua mái
giọt, vào đặt phịch cái bao lên bàn. Lão Ba Ngù khệ nệ ôm một chiếc ba-lô to tướng rằng rịt những dây da,
lấm lem bùn đất, thận trọng đi từng bước vào và sẽ sàng đặt lên chiếc chõng tre, cạnh cửa ra vào bếp.
Một người đàn ông chạc hăm sáu hăm bảy tuổi, cao lêu nghêu, mặc bộ quân phục ka-ki màu rêu, thắt
lưng da rộng bản, khẩu súng poọc-hoọc đeo trễ bên hông, tay xách đôi giày vải, tay cầm chiếc mũ vải kiểu
hướng đạo bước vào đưa mắt ngắm nghía một vòng trong quán rồi thong thả kéo ghế ngồi xuống.
Anh Sáu tuyên truyền giới thiệu với dì Tư Béo:
- Đây là ông Huỳnh Tấn, đặc phái viên của Tổng hành dinh Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, ở miền Đông
mới tới!
Dì Tư Béo chắp hai tay trước bụng cúi đầu chào, nói gì lí nhí trong mồm không nghe rõ, chỉ thấy dôi
môi run run một cách cảm động. ông khách đứng dậy, toét miệng cười, khẽ nghiêng đầu chào đáp lễ rồi nói
cách thân mật tự nhiên:
Kiến cắn bụng dữ rồi đây? Dì có gì cho chúng tòi làm ba hột cho đỡ đói cái đã...
Lão Ba Ngù buột miệng đáp ngay:
Còn nửa rá bún tươi. CÓ thể ăn với thịt bò xào lá cách. Còn nhậu thì... đâu như nhà còn mấy con tôm
càng nướng, phải không bà chị? Mà rượu hôm nay không đặng ngon?
Dì Tư Béo gật đầu lia lịa:
- Muốn ăn cơm cũng được. Tôi chịu khó nấu. Chẳng mấy thuở mà! Bắt gà làm xé phay ăn thôi.
Anh Sáu tuyên truyền vừa lau mồ hôi vừa nuốt nước bọt, giọng sốt ruột:..
- Dì muốn cho ăn thức gì cũng được. CÓ bao nhiêu cứ dọn hết ra đây. Nhưng phải gấp lên!
Lão Ba Ngù lăng xăng giúp bà chủ quán pha ấm trà, đặt lên bàn mời khách. Anh Sáu tuyên truyền bảo
tôi đem cho ảnh một ít bún tươi, rồi ảnh rút trong bao cà- ràng ra một cuộn giấy nhặt lấy hai tờ rộng khổ
nhất úp lên bàn, bảo tôi xếp bún vào.
- Chà, có khẩu hiệu gì mới hả chú Sáu? - lão Ba Ngù tò mò hỏi.
Phải Vừa lĩnh trên quận về đây. Bác kê giúp cái ghế cho tôi dán lên vách đi.
Anh Sáu tuyên truyền đứng lên ghế, đưa tờ khẩu hiệu ngắm nghía cho cân bằng hai đầu rồi từ từ dán vô
vách lá Dán xong một tờ, anh thong thả dán nốt tờ thứ hai.
Tôi cầm đèn soi lên, nhìn trân trân vào những dòng chữ khắc gỗ in mộc bản mà tôi đã đọc nhiều lần trên
các tờ khẩu hiệu dán đầy ở những nẻo đường tôi đã vượt qua.
Độc lập hay là chết Nước Việt Nam clta ngồi Việt Nam!
Anh Sáu tuyên truyền lại lôi ra một tờ giấy khổ nhỏ in chữ chì, còn thơm phức mùi mực ty-phô, dán vào
vách ngang tầm mắt người ngồi ở bàn. Lão Ba Ngù lẩm nhẩm đánh vần:
- Khờ... ông... không, đờ.. i đi... Khô. ng đi lính chờ... o cho... Không đi lính cho giặc!
Đôi mắt tròn ra, nét mặt trang nghiêm, lão Ba Ngù lần lượt vừa đánh vần vừa đọc hết những khẩu hiệu
như những lời thề viết lên bằng máu:
Không di lính cho giặc!
Không bán lương thực cho giặc Không đưa đường chỉ lối cho giặc Ai có dao dùng dao, có mác dùng
mác, mỗi người dân là một người lính, mỗi thước đất là một chiến hào, sẵn sàng hi sinh bảo vệ nền độc lập
cho TỔ quốc!
Đọc xong rồi, lão Ba Ngù lẳng lặng bước đến chỗ móc áo lấy cái áo bà ba đen của lão giũ giũ mấy cái.
Đoạn lão mặc vào, cài cả cúc cổ cẩn thận. Lão cứ đứng nhìn lên những dòng chữ đỏ chói như máu kia, hai
bàn tay vuốt đi vuốt lại những nếp áo nhăn nheo đã lâu không mặc tới.
Không biết có phải vì cơn gió to lúc nãy khiến lão bị lạnh, hay bởi lẽ nào khác tôi không được rõ. Chỉ
trông nét mặt im lặng và cử chỉ trang nghiêm của lão thì tôi thấy giống như lão đang đứng bên giường một
ngươi bệnh thập tử nhất sinh. Kinh nghiệm ở những nơi khác thì với tình hình này, chắc chắn là chỉ trong
vòng một tuần lễ nữa thôi, giặc Pháp sẽ tiến tới đây...
Trời ơi, mày có bưng đĩa thịt bò ra giùm tao một chút không. Làm gì mà đứng chết gí ngoài đó vậy? - đì
Tư Béo trong bếp eo éo gọi vọng ra.
Tôi giật mình chạy vào, suýt nữa ngã bổ xuống ngạch cửa. Lão Ba Ngù không vào giúp tôi một tay như
mọi khi, lão lặng lẽ ra đứng trước bến hút thuố...
 





