Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Day Tre Phuong Phap Tu Duy - Edward de Bono

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:35' 07-03-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 16
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:35' 07-03-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 16
Số lượt thích:
0 người
ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
Tiến sĩ Edward de bono sinh năm 1933 tại Malta, trong thế
chiến thứ II ông đã học ở cao đẳng St Edward và sau đó tiếp tục
vào đại học Malta. Tại đây ông nhận được các bằng cấp về tâm
lý học, sinh lý học và sau cùng nhận học hàm tiến sĩ y khoa.
Sau đó, ông còn nhận thêm một học vị tiến sĩ khác ở
Cambridge và tốt nghiệp bác sĩ ở đại học Malta.
Ông là giáo sư ở các đại học Oxford, Cambridge, Harvard, và
cũng là giáo sư thỉnh giảng ở hơn 52 quốc gia khác nhau. Ông
cũng cộng tác với các công ty lớn ở nhiều nơi trong đó có IBM,
Du POnt, Prudential, AT&T, British Airways, British Coal,
NTT(nhật), Ericsson (Thụy điển), Total(pháp), Siemens, và
Microsoft. Tại các hãng này, ông hoặc trực tiếp giảng dạy cho
người làm hoặc hướng dẫn các nhóm quản lý đầu não.
Edward de Bono có nhiều tác phẩm, chuyên khảo về tư duy
đặc biệt là các phương pháp tư duy định hướng. Rất nhiều
sách trong đó đã được dịch ra khoảng 34 ngôn ngữ.
Ô
Ông từng nhận giải Capire tại Madrid do cống hiến quan
trọng cho nhân loại năm 1988, và huân chương "Order of Merit"
do chính phủ Malta trao tặng năm 1995.
Trong cuốn sách quan trọng "The Mechanism of Mind" (cơ
chế của tư tưởng) xuất bản năm 1969, ông đã chỉ cho thấy làm
thế nào mạng lưới thần kinh tạo nên các dạng thức không đối
xứng đóng vai cơ sở cho nhận thức. Nhà vật lý học tiên phong,
giáo sư Murray Gell Mann đã đánh giá rằng tác phẩm của Bono
đã đi trước các nhà toán học trong 10 năm trong việc tìm hiểu
các lý thuyết hỗn độn (chaos theory), các hệ thống phi tuyến
tính, và các hệ thống tự quản (self-organising systems).
Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm "tư duy định hướng"
mà ngày nay được dùng rộng rãi để chỉ các phương pháp tư
duy sáng tạo.
Lối tư duy truyền thống dùng đến các phần tích, cân nhắc, và
bàn cãi. Trong một thế giới ổn định thì các cách thức đó là đủ
thích hợp để nhận diện ra các tình huống chuẩn và để áp dụng
các giải pháp chuẩn. Tuy nhiên, điều này không còn hiệu
nghiệm nữa trong một thế giới biến đổi mà ở đó các lời giải
chuẩn mực có thể không hiệu lực nữa. Do đó, việc chuẩn bị khả
năng sáng tạo, cấu trúc, và thiết kế từ trước để đáp ứng sự đổi
thay nhanh chóng của thế giới đã trở thành một nhu cầu khổng
lồ của toàn thế giới. Edward de Bono là một trong những nhà
tiền phong thâm nhập vào các lĩnh vực này. Ông cung cấp các
phương thức và công cụ cho lề lối tư duy mới: tư duy sáng tạo
và cấu trúc.
Ông đã chi tiết hóa một loạt các "phương pháp giải phóng tư
duy" - đây là các ứng dụng nhấn mạnh tư duy như là một hoạt
động để khai phóng hơn là một hành động phản ứng. Với việc
sử dụng cách viết thực tế, rõ ràng và tránh né các khái niệm có
tính hàn lâm, ông đã vận dụng các hiểu biết về tâm lí học qua
việc biến các lý thuyết về sự sáng tạo và nhận thức của con
[1]
người thành các công cụ thực sự khả dụng
ẩ
Trong số khoảng 65 tác phẩm của Edward de Bono, đã có
một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng việt như Tư Duy Là Tồn
Tại, Sáu Chiếc Nón Tư Duy, Để Có Một Tâm Hồn Đẹp Và Dạy Trẻ
Phương Pháp Tư Duy.
Trong dạy trẻ phương pháp tư duy, tác giả đưa ra những
cách thức đơn giản và thực tiễn để những bậc cha mẹ làm thế
nào có thể giúp trẻ phát triển được kỹ năng tư duy. Hiện nay,
nhiều người cho rằng, nhà trường chưa xem trọng việc dạy
cách tư duy cho học sinh, do vậy cuốn sách này rất hữu ích
trong việc giúp trẻ phát triển trí năng, óc sáng tạo và nhờ vậy,
[2]
trẻ sẽ tự tin hơn và sẽ dễ thành công trong cuộc sống hơn.
PHẦN I – LỜI TỰA
Một trong những tham vọng của tôi khi viết cuốn sách này là trên
thế giới sẽ ngày càng có nhiều người trẻ tuổi tự khẳng định rằng” tôi
sẽ là một người biết tư duy”.
Và tuyệt vời hơn nữa nếu họ tự tin khẳng định rằng “tôi là một
người biết tư duy - và tôi biết tư duy”.
Cuốn sách này phù hợp với những bậc làm cha mẹ và cả với
những em thiếu niên đọc để học cách tư duy.
Tư duy không phải là một điều khó khăn. Tư duy càng không phải
là một điều tẻ nhạt. Bạn không cần phải là thiên tài thì mới có thể trở
thành một người tư duy giỏi.
Bạn muốn theo kịp xu hướng phát triển của xã hội, bạn cần phải
là một người giỏi tư duy.
Những tình huống trong cuộc sống của mỗi cá nhân cũng luôn đòi
hỏi chúng ta phải là một người suy nghĩ tốt, và trong tương lai cùng
với sự gia tăng độ phức tạp của nhu cầu cũng như các cơ hội, đòi
hỏi này càng tăng lên.
Trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống đời thường, giỏi suy
nghĩ đóng vai trò thiết yếu cho sự tồn tại, cho thành công và trong
cạnh tranh.
Cuốn sách này không dành cho bạn nếu:
1- Bạn tin rằng chỉ cần thông minh là đủ. Nếu bạn tin rằng
một người rất thông minh dĩ nhiên sẽ là một người giỏi tư duy, và
một người kém thông minh hơn thì tư duy sẽ tồi hơn, thì cuốn sách
này cũng không dành cho bạn.
Dựa trên kinh nghiệm, tôi rút ra rằng những người thông minh
không phải luôn là những người giỏi tư duy. Rất nhiều người thông
minh lại rơi vào “chiếc bẫy của sự thông minh” và biến mình thành
một người tư duy tồi. Thông minh là một khả năng. Suy nghĩ là kỹ
năng để vận dụng khả năng đó. Trong những trang tiếp theo tôi sẽ
trình bày kỹ hơn vấn đề này.
2- Bạn tin rằng bạn đã được học các kỹ năng suy nghĩ ở
trường học. Nếu bạn tin rằng trường học là nơi phù hợp để bạn học
cách suy nghĩ và trường học đã dạy bạn điều này đủ rồi, thì bạn
cũng không nên đọc cuốn sách này.
Theo kinh nghiệm của tôi thì hầu hết các trường học không dạy
cho học sinh cách tư duy. Một vài trường học chỉ dạy học sinh
những kỹ năng tư duy rất giới hạn, bao gồm phân loại thông tin và
phân tích. Gần đây, dấy lên phong trào dạy tư duy cho học sinh. Một
số trường đã bắt đầu dạy học sinh “lối tư duy phê phán”. Điều này là
đáng làm, nhưng nếu chỉ dạy học sinh “lối tư duy phê phán” thì chưa
đầy đủ, thậm chí rất nguy hiểm (tôi sẽ giải thích điều này sau).
Tôi đã xây dựng chương trình giảng dạy tư duy, chương trình
cort. Chương trình này hiện đang được hàng triệu sinh viên ở các
quốc gia khác nhau áp dụng. Mặc dầu vậy, dường như ở trường
học, họ vẫn chưa áp dụng chương trình này để dạy cho học sinh.
3- Bạn tin rằng không thể dạy các kỹ năng tư duy một
cách trực tiếp. Nếu bạn cho rằng kỹ năng tư duy chỉ có thể phát triển
thông qua những vấn đề cụ thể hoặc khi ứng dụng trong cuộc sống
hàng ngày, cuốn sách này cũng không phù hợp với bạn.
Hầu hết chúng ta khi đi học đều được dạy và tin rằng tư duy
không thể được dạy trực tiếp. Hiện nay, mọi người đã bắt đầu thay
đổi quan điểm này khi thực tế và cả những nghiên cứu chỉ ra rằng
những kỹ năng này có thể học trực tiếp. Bởi vì chúng ta tốn quá
nhiều thời gian suy nghĩ những điều mà bản thân nó không cải thiện
được kỹ năng tư duy của chúng ta.
Một nhà báo quen với lối đánh máy gõ hai ngón sẽ vẫn sử dụng
lối đánh máy này cho đến tận tuổi 60. Điều này không phải vì ông ta
không được thực hành nhiều. Nếu ông ta chỉ luyện tập đánh máy
với cách đánh chỉ sử dụng hai ngón tay, ông ta chỉ có thể trở thành
một người đánh máy hai ngón giỏi. Nhưng nếu khi chúng ta còn trẻ
và được tham gia một khóa học đánh máy, có thể chỉ cần một khóa
ngắn hạn, thì về sau này, chúng ta luôn là những người đánh máy
tốt. Điều tương tự như vậy cũng xảy ra với cách suy nghĩ. Thực
hành thôi là chưa đủ.
Edward de
Bono
LỜI GIỚI THIỆU
TẠI SAO CHÚNG TA CẦN SUY NGHĨ MỚI VỀ CÁCH TƯ DUY
Thông tin và suy nghĩ
Thông tin rất quan trọng. Thông tin cũng dễ dạy. Thông tin cũng
dễ kiểm tra. Cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta đến
trường và được dạy rất nhiều điều liên quan đến thông tin.
Suy nghĩ không thay thế cho thông tin nhưng thông tin có thể là
một trong những thứ thay thế của suy nghĩ.
Các định nghĩa thần học đều cho rằng chúa trời là đấng tối cao có
kiến thức tuyệt đối và hoàn hảo. Khi ai đó có kiến thức tuyệt đối và
hoàn hảo, người đó chắc chắn không cần phải suy nghĩ gì nữa.
Trong một tầm hiểu biết nào đó, chúng ta có thể là những người
tích lũy đầy đủ thông tin, và đó là những vấn đề mà khi gặp phải
chúng ta sẽ không cần phải suy nghĩ.
Trong tương lại, ta sẽ để cho máy tính giải quyết những việc như
vậy.
Trừ khi chúng ta có đầy đủ thông tin, chúng ta cần suy nghĩ để có
cách sử dụng tốt nhất những thông tin chúng ta có. Khi máy tính và
công nghệ thông tin ngày càng cung cấp cho chúng ta nhiều thông
tin, chúng ta cần suy nghĩ để tránh bị ngập vào sự rối rắm bởi tất cả
những thông tin đó.
Khi chúng ta xem xét sự việc diễn ra trong tương lai, chúng ta cần
suy nghĩ bởi vì chúng ta sẽ không thể có đầy đủ thông tin về tương
lai.
Để sáng tạo, thiết kế, làm kinh doanh hay làm bất cứ điều gì mới,
chúng ta đều cần suy nghĩ. Chúng ta suy nghĩ để sử dụng thông tin
tốt hơn khiến cho chúng ta cạnh tranh tốt hơn.
Như vậy, chỉ có thông tin không là chưa đủ. Chúng ta cần có cả
suy nghĩ. Nhưng thật không dễ gì để thực hiện điều này. Tất cả
thông tin đều có giá trị. Thông tin mới càng có giá trị bởi vì nó giúp
chúng ta có thêm kiến thức. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể
khuyến khích mọi người giảm thời gian dạy thông tin và dành thời
gian dạy các kỹ năng suy nghĩ giúp sử dụng thông tin một cách tốt
nhất? Chúng ta cần cân bằng giữa thông tin và kỹ năng suy nghĩ.
Trí thông minh và suy nghĩ.
Niềm tin rằng sự thông minh và sự tư duy là giống nhau đã dẫn
đến hai kết luận không phù hợp sau trong việc dạy học:
1- Đối với những học sinh rất thông minh thì chẳng cần
dạy chúng phải suy nghĩ như thế nào vì mặc nhiên chúng cũng sẽ là
những học sinh giỏi suy nghĩ.
2- Đối với những học sinh không thông minh thì chẳng thể
dạy chúng cách suy nghĩ thế nào cho tốt vì dạy thế nào thì chúng
cũng không thể suy nghĩ tốt được.
Mối liên hệ giữa sự thông minh và cách suy nghĩ cũng giống như
mối liên hệ giữa chiếc ô tô và người lái ô tô. Một chiếc ô tô động cơ
tối tân có thể bị một người lái tồi. Trong khi một chiếc ô tô động cơ
kém hơn nhưng có thể có một người điều khiển rất tốt. Động cơ của
một chiếc ô tô chính là tiềm năng của chiếc ô tô chũng giống như
thông minh là tiềm năng của trí óc. Kỹ năng của người lái xe quyết
định làm thế nào để sử dụng hết tiềm năng của ô tô. Kỹ năng của
người tư duy quyết định xem sẽ phát huy sự thông minh đó như thế
nào.
Tôi thường định nghĩa tư duy là “sự ứng dụng tài năng một cách
tài tình dựa theo kinh nghiệm”.
Có nhiều người rất thông minh thường chọn một cái nhìn về một
sự việC và Sử dụng sự thông minh của họ để bảo vệ cho cái nhìn
đó. Và bởi vì họ làm điều này rất giỏi nên họ sẽ chẳng bao giờ thấy
cần phải khám phá sự việc hoặc lắng nghe những quan điểm khác.
Đây là một cách suy nghĩ tồi và nó chính là “chiếc bẫy của sự thông
minh”.
Quan sát biểu đồ 1 ở trang bên, một người nhìn tình huống và
ngày lập tức xét đoán nó.
Trong khi đó, biểu đồ 2, một người xem xét tình huống rồi sau đó
tiếp tục khám phá tình huống. Một người rất thông minh có thể thực
hiện quá trình nhìn và quá trình xét đoán rất tốt, nhưng nếu thiếu đi
quá trình khám phá thì đó vẫn là một quá trình tư duy tồi.
Những người rất thông minh thường là những người rất giỏi trong
việc giải đố hoặc giải quyết các vấn đề khi tất cả các dữ liệu đã có.
Nhưng họ không phải là những người xuất sắc trong những tình
huống đòi hỏi họ phải đi tìm thêm dữ liệu và đánh giá những dữ liệu
đó.
Và điều cuối cùng là những người rất thông minh lại thường là
những người bảo vệ cái tôi của riêng mình. Họ thích được nhìn
nhận rằng họ luôn là những người phải. Điều này có nghĩa là họ sẵn
sàng dùng nhiều thời gian vào việc công kích và chỉ trích quan điểm
của những người khác, bởi vì đó là cách dễ dàng để chứng minh
người khác sai. Điều này cũng có nghĩa là những người rất thông
minh không phải là những người sẵn sàng chấp nhận những rủi ro
trong lối suy đoán bởi nếu thế họ không thể luôn dám chắc là họ
đúng.
Và tất nhiên, chẳng có điều gì ngăn cản một người rất thông minh
trở thành một người suy nghĩ tài giỏi nhưng điều này không tự nó
đến. Chúng ta cần phải học để phát triển kỹ năng suy nghĩ.
Sự thông minh và sự hiểu biết.
Tại trường học, trong trò chơi giải đố, trong những kỳ kiểm tra
hoặc kỳ thi, nói chung là trong hệ thống đánh giá của chúng ta,
chúng ta luôn coi trọng sự thông minh.
Một chàng trai thông minh có thể kiếm được rất nhiều tiền tại thị
trường chứng khoán phố wall, trong khi cuộc sống riêng tư của anh
ta lại rối như tơ vò.
Sự thông minh được ví như tiêu cự của ống kính máy quay phim,
trong khi sự hiểu biết lại được xem như bề rộng của ống kính.
Lý do chúng ta không chú ý nhiều đến sự hiểu biết bởi vì chúng ta
cho rằng sự hiểu biết có được cùng với tuổi tác và kinh nghiệm và
chẳng ai có thể dạy ta được sự hiểu biết. Đây là một cách hiểu sai
lầm. Ai cũng có thể học để có được sự hiểu biết. Và nội dung chính
của cuốn sách này là chỉ cho bạn để bạn học được điều đó. Sự hiểu
biết phụ thuộc chặt chẽ vào sự nhận thức. Bạn sẽ phải học về cách
nhận thức, chứ không phải học về sự logic.
Liệu tư duy có phải là một việc khó khăn?
Chúng ta luôn cố gắng phát triển kỹ năng tư duy của mọi người
bằng cách đưa ra những công việc quá khó để họ làm?
Tất nhiên, nếu suy nghĩ là một việc dễ dàng, thì đó cũng chẳng có
gì để cố gắng, để đạt được, và để học hỏi.
Trong hầu hết các lĩnh vực phát triển kỹ năng (tennis, trượt tuyết,
âm nhạc, nấu ăn) chúng ta ứng dụng những nhiệm vụ tương đối khó
khăn. Nói theo cách khác, chúng ta chỉ có thể làm tốt những lĩnh vực
trên chỉ khi chúng ta luyện tập thành thục những kỹ năng để thực
hiện chúng. Điều này tạo dựng nên sự tư tin và sự thành thục trong
kỹ năng. Chúng ta muốn làm những công việc mà không làm mất đi
sự tự tin của chúng ta. Đó chính là lý do tại sao có nhiều người lại từ
bỏ việc tư duy. Họ nhận thấy đó là một việc nhàm chán bởi vì nó quá
khó khăn. Bạn sẽ chẳng thích thú thể hiện điều gì khi mà bạn không
có khả năng để thể hiện chúng.
Tôi không tin rằng những vấn đề quá phức tạp, những trò giải đố,
những trò chơi mang tính chất toán học là những cách tốt để dạy
cách tư duy. Đó cũng chính là lý do tại sao những nhiệm vụ tư duy
và những bài tập ứng dụng trong cuốn sách này là những điều
không quá khó khăn.
Hơn nữa, kinh nghiệm của mọi người cũng chỉ ra rằng không phải
bạn cứ làm được những điều vô cùng khó khăn thì khi gặp những
việc ít khó khăn hơn bạn cũng sẽ giải quyết trôi chảy. Nhiều người
có khả năng tư duy những công việc to tát nhưng khi gặp những
việc đơn giản hơn họ lại thể hiện sự tư duy kém cỏi hơn.
Thế nào là một người tri thức?
Quy luật đầu tiên của những người quá đam mê công việc trí óc
là “nếu bạn không có nhiều điều để nói, bạn hãy cố gắng trình bày
nó theo cách phức tạp nhất mà bạn có thể”. Một người tư duy phức
tạp sợ hãi sự giản đơn cũng như người nông dân sợ khô hạn. Nếu
không có gì phức tạp, liệu họ sẽ có gì để làm hoặc để viết về nó? .
Tôi đã có bài nói chuyện với những nhà sư phạm, những người ít
nhiều cũng làm cho tôi hiểu rằng họ muốn bài nói chuyện của tôi thật
ấn tượng đối với họ, nhưng lại quá khó để họ không thể thực hành
được.
Mọi người cũng thường phức tạp hóa vấn đề ngay cả trong việc
mô tả. Nếu bạn muốn, bạn có thể phân chia một chiếc bút chì thành
mười phần khác nhau và sau đó bạn bắt đầu quá trình mô tả mối
liên hệ của mười phần đó với nhau. Và khi bạn chỉ có một chút kiến
thức ít ỏi về biên đạo múa, bạn cũng muốn biên đạo những điệu
múa phức tạp. Cũng như khi chơi trò chơi đố ô chữ, bạn chẳng hề bị
giới hạn về từ ngữ và bạn tha hồ chọn từ mà bạn thích.
Bạn thường bình luận về sự phức tạp của những người khác và
ngay cả nhận xét của các nhà phê bình. Và mặc nhiên nó là một quá
trình phát triển trong tư duy của bạn. Những nhận xét sẽ nhanh
chóng trở thành lựa chọn của bạn hơn là những hành động cụ thể,
và như vậy, chúng ta coi điều này như “ học bổng quý giá chúng ta
nhận được”.
Cũng có những người xem quá trình này không lôi cuốn và không
cần thiết. Điều này đặc biệt đúng với những người chú trọng đến kết
quả thực tế. Họ đặt ngang hàng sự “tư duy phức tạp” với “sự suy
nghĩ” và kết quả là họ từ bỏ việc suy nghĩ. Cách nhìn nhận này thật
đáng tiếc.
Bạn có thể trở thành một người tư duy mà không cần phải là một
người có suy nghĩ quá phức tạp. Trong thực tế, nhiều người trí thức
không hẳn đã là những người tư duy tốt.
Tác động phản hồi và những suy nghĩ tiên phong.
Trong trường học, chúng ta thường đặt giấy, sách, bảng đen
trước mặt học sinh. Học sinh sau đó được yêu cầu đưa ra hành
động dựa trên những gì các em nhìn thấy. Đây cũng chính là lý do
tại sao ở trường học, trẻ em được dạy lối tư duy phản hồi.
“đây là một sự việc, em nghĩ gì về sự việc này?”.
Bạn không thể dễ dàng yêu cầu các em học sinh hãy dời trường
và tổ chức một doanh nghiệp. Bạn cũng không dễ dàng yêu cầu học
sinh đưa ra cách giải quyết về những vấn đề xảy ra thực tế hoặc
đảm nhận một dự án thực tế. Bởi đơn giản ở trường học không đặt
ra mục tiêu là công việc thực tế.
Điều này cũng xảy ra đối với lối suy nghĩ phản hồi hành động phù
hợp với truyền thống tư duy phức tạp hóa vấn đề của các học giả: “
chúng ta hành động thế nào đối với những sự việc đang tồn tại?”.
Nhưng trường họC và Sự giáo dục không phải là một trò chơi.
Những tình huống sống thực tế liên quan chặt chẽ đến lối suy nghĩ
tiên phong. Điều này đồng nghĩa với yêu cầu mọi người hãy ra ngoài
và bắt tay làm việc. Bạn phải tự đi tìm thông tin, không phải tất cả
mọi thông tin đã nằm ở đó và chờ bạn. Nếu bạn chỉ ngồi yên trên
ghế của bạn thì sẽ chẳng có việc gì xảy ra. Thật là dễ để đến nhà
hàng ngồi ăn với những món ăn đã được dọn sẵn trên bàn ăn.
Nhưng việc đi chợ mua đồ ăn (hoặc tự trồng và nuôi dưỡng chúng)
và sau đó chế biến chúng lại là một việc hoàn toàn khác. Việc không
coi trọng lối suy nghĩ tiên phong hơn lối suy nghĩ phản hồi không
phải là lỗi của hệ thống giáo dục hiện thời của chúng ta, bởi tư duy
tiên phong không giản đơn như tư duy phản hồi. Nhưng sai lầm của
họ ở đây chính là đã ủng hộ và coi lối tư duy phản hồi là lối tư duy
phù hợp.
Từ “sự thực hiện”
Tất cả mọi người biết sự biết đọc, biết viết, những con số có ý
nghĩa gì. Tôi đã phát minh ra từ “sự thực hiện” vài năm trước đây để
chỉ toàn bộ các kỹ năng hành động.
Sẽ là một điều hoang tưởng khi chúng ta cho rằng những điều
chúng ta được học đã là đủ. Nếu bạn có kiến thức đầy đủ thì việc
thực hiện hành động thật đơn giản và dễ dàng. Nếu bạn có được
một tấm bản đồ chi tiết, mọi việc sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, thế giới thực tại lại khác việc học rất nhiều. Với kinh
nghiệm tích lũy sau nhiều năm làm kinh doanh cũng như công việc
hành chính nhà nước đã chỉ cho tôi thấy rằng hành động không bao
giờ là dễ dàng. Hành động bao giờ cũng đòi hỏi sự suy nghĩ lớn lao.
Cảm giác chịu đựng và những suy nghĩ theo bản năng đã không còn
là lối suy nghĩ phù hợp.
Chúng ta có những người phải bàn chuyện, có những quyết định
cần được đưa ra, có những chiến lược cần được thiết kế và giám
sát. Và có những kế hoạch cần được đưa ra và thực hiện. Chúng ta
còn có cả những mâu thuẫn, thương lượng, đàm phán và tiến bộ.
Có những điều cần phải cân nhắc về mặt giá trị, và cần đến cả sự
cân bằng các yếu tố để đạt được sự thỏa hiệp. Tất cả những điều
này đều đòi hỏi một cấp độ thực hiện cao.
Trong một thế giới cạnh tranh, những quốc gia công nghiệp hóa
thì “sự thực hiện” luôn là người bạn đồng hành. Đối với mỗi cá nhân,
với mỗi thanh niên, những người chưa có được những kỹ năng thực
hiện nên đặt đó là một mục tiêu cho việc học tập.
Sự thực hiện bao gồm nhiều khía cạnh của suy nghĩ như: cái nhìn
của những người khác, ưu thế, mục tiêu, sự phối hợp, kết quả, sự
suy đoán, quyết định, xung đột, giải pháp, hành động và nhiều khía
cạnh khác trong lối suy nghĩ ứng dụng trong việc phân tích thông tin.
Tất cả những điều này là những bộ phận của lối suy nghĩ tiên
phong, chứ không phải lối suy nghĩ phản hồi quen thuộc.
Lối suy nghĩ phê phán
Lối suy nghĩ truyền thống phương tây thường rất coi trọng lối suy
nghĩ phê phán. Điều này một phần là do ảnh hưởng của lối suy nghĩ
của những người hy lạp cổ, sau này được áp dụng trong thời kỳ
phục hưng, một phần xuất phát từ nhu cầu của các giáo sỹ thời
trung cổ cần một lối tư duy để phản bác lại dị giáo.
Lối suy nghĩ phê phán chỉ phát huy giá trị cao trong hai hệ thống
xã hội. Một là trong một xã hội vô cùng ổn định (như thời hy lạp cổ
đại và thời trung cổ). Và bất kỳ một ý tưởng mới hoặc một sự xâm
phạm nào làm nảy sinh sự thay đổi cần bị phê phán. Chế độ xã hội
thứ hai là một xã hội tràn ngập những tư tưởng kiến thiết và hành
động và lối tư duy phê phán cần thiết để chọn lựa những giá trị đúng
đắn ra khỏi những ý tưởng không xác thực.
Nhưng xã hội chúng ta đang sống lại không phải là một trong hai
thể chế xã hội trên. Có rất nhiều điều cần thay đổi và còn thiếu rất
nhiều những ý tưởng mới và những động lực sáng tạo.
Hãy tưởng tượng ra một đội dự án gồm sáu nhà phê bình lỗi lạc
ngồi bàn bạc giải pháp cho tình hình ô nhiễm trong khu vực. Chẳng
ai trong số họ có thể sử dụng năng lực trí óc được đào tạo cao siêu
của họ cho đến tận khi có ai đó đưa ra một gợi ý thực tế. Điều khó
khăn ở đây là lối tư duy phê phán chính là lối tư duy phản hồi. Trước
hết, phải có cái gì đó thì mới có thể phê phán được. Nhưng liệu ý
tưởng đó từ đâu đến? Những đề xuất, những gợi ý là kết quả của lối
tư duy xây dựng, sáng tạo và nảy sinh.
Nếu chúng ta đào tạo một người để tránh cho họ tất cả các lỗi
trong suy nghĩ, liệu đó có phải là một người giỏi tư duy. Hoàn toàn
không phải như vậy.
Nếu chúng ta huấn luyện một lái xe tránh tất cả các lỗi lầm trong
việc lái xe, liệu đó có phải là một người lái xe tuyệt vời?
Chắc chắn là không phải như vậy bởi vì người này sẽ cất ngay xe
vào gara để tránh được mọi lỗi lầm có thể xảy ra. Việc tránh được
những sai lầm của lái xe một cách tốt nhất chính là cách để anh ta
lái xe đi đâu đó. Tương tự như vậy, lối suy nghĩ phê phán chỉ có giá
trị nếu chúng ta có được một suy nghĩ xây dựng và sáng tạo. Liệu
có ích gì nếu bạn có được bộ yên cương nhưng bạn lại không có
ngựa để thắng.
Đây là một vấn đề hết sức quan trọng bởi vì ở nhiều trường học
hiện nay tin rằng việc dạy cho học sinh lối tư duy phê phán là phù
hợp. Họ thực hiện lối giáo dục như vậy bởi nó phù hợp với việc coi
trọng lối tư duy phản hồi và cũng bởi đó là lối suy nghĩ truyền thống.
Lối tư duy phê phán là lối tư duy quan trọng và có giá trị nhất định
trong hệ thống tư duy. Nhưng đó chỉ là một bộ phận của hệ thống tư
duy. Và để trở thành một người giỏi suy nghĩ, chúng ta phải có lối tư
duy toàn diện.
Lối tư duy phê phán tạo ra rất nhiều rào cản nguy hiểm trong suy
nghĩ. Ngay cả những người được coi là thông minh nhất cũng có thể
bị mắc kẹt trong lối suy nghĩ phê phán và không thế phát triển được
các kỹ năng tư duy xây dựng và sáng tạo. Tại trường học, học sinh
không được cho thời gian cũng như yêu cầu sự cố gắng để học các
khía cạnh của suy nghĩ xây dựng và sáng tạo bởi các nhà giáo dục
cho rằng họ đã dạy học sinh sự suy nghĩ rồi. Mối nguy hiểm khác
nữa của lối suy nghĩ phê phán là làm nảy sinh tính kiêu ngạo, bởi vì
lối suy nghĩ phê phán luôn cho rằng mình đúng, ngay cả khi họ thiếu
thông tin hoặc nhận thức sai lầm, làm nảy sinh sự kiêu ngạo. Tôi sẽ
bàn cụ thể vấn đề này ở phần sau). Những kỹ năng của lối suy nghĩ
phê phán không thích hợp với những kỹ năng của lối suy nghĩ sáng
tạo và xây dựng bởi vì suy nghĩ xây dựng và sáng tạo đòi hỏi sự suy
nghĩ để làm nảy sinh những ý tưởng mới. Sự phê phán bao giờ
cũng đơn giản hơn rất nhiều so với sự sáng tạo.
Hệ thống đối đầu
Tại nước mỹ, cứ 350 người dân thì có một luật sư, trong khi đó
con số này ở nhật bản là 9000 người dân. Sở dĩ có sự khác biệt lớn
như vậy là do ở mỹ mọi người vẫn suy nghĩ theo lối suy nghĩ truyền
thống phương tây, đó chính là hệ thống đối đầu. Lối tư duy này nảy
sinh trực tiếp từ thói quen suy nghĩ phê phán và tìm ra sự thật thông
qua đối thoại đối đầu.
Theo lối tư duy này thì tranh luận và cãi vã được xem như một
cách chính xác để khám phá sự việc bởi vì cả hai bên đều có động
cơ rõ rệt. Nhưng bởi vì nảy sinh từ những động cơ cụ thể, nên lối
suy nghĩ này lại bỏ qua sự khám phá. Liệu, một bên có sẵn sàng
đưa ra những ý kiến và quan điểm mà có lợi cho phía bên kia?
Hệ thống đối đầu chính là lối suy nghĩ theo kiểu tôi đúng thì anh
sai.
Hệ thống đối đầu thường chính là nền tảng của thể chế chính trị,
luật pháp, khoa học (trong một số phạm vi) và trong cả cuộc sống
hàng ngày. Nhưng nó là một hệ thống rất hạn chế và là một hệ
thống có nhiều thiếu sót (các bạn sẽ hiểu điều này kỹ hơn khi nghiên
cứu cuốn sách tôi đúng thì anh sai của tôi).
Sự đối ngược, sự khiêu khích và sự xung đột thường chỉ gia tăng
khi sử dụng hệ thống đối đầu. Xung đột thường đòi hỏi một kết luận
được thiết lập hơn là một thử nghiệm về sức mạnh của sự đối đầu.
Sự đòi hỏi và sự phản đối
“tại sao tôi lại phải thức dậy vào buổi sáng?”
“tại sao tôi lại phải mang ca ra vat"
“tại sao tôi lại phải đi đến trường học?”
Đối với nhiều người, ý tưởng về sự suy nghĩ được coi như sự đòi
hỏi, sự phản đối và sự tranh luận. Đây chính là lý do tại sao mà
nhiều chính phủ, cơ quan giáo dục, các nhà chức trách và cả các
bậc phụ huynh thường phản đối ý tưởng dạy lối suy nghĩ. Họ xem
việc suy nghĩ chính là nguyên nhân gây ra tình trạng chia rẽ, sự
phản đối và sự tranh luận không có chiều chấm dứt. Thực chất thì
những khả năng trên chỉ xảy ra khi lối tư duy phản đối theo mẫu cũ
chiếm ưu thế trong xã hội.
Nhưng chương trình dạy tư duy cort hiện nay được nhiều nền văn
hóa và nhiều hệ tư tưởng áp dụng (từ những người thiên chúa giáo,
những người theo đạo tin lành, những người theo chủ nghĩa mac,
những người hồi giáo, những người trung hoa). Bởi vì chương trình
cort trình bày lối suy nghĩ xây dựng, lối suy nghĩ khác biệt nhiều so
với lối suy nghĩ yêu cầu và phản đối. Trên thực tế, một số chính phủ
đã xem việc dạy lối tư duy xây dựng như là một cách bảo vệ tốt nhất
để chống lại sự tràn lan của lối tư duy phản đối mà những người trẻ
tuổi không được học cách suy nghĩ thường đem áp dụng.
Lối tư duy đòi hỏi có mối liên hệ khá chặt chẽ đối với lối suy nghĩ
phê phán và lối suy nghĩ đối đầu. Lối suy nghĩ này xuất phát từ quan
niệm cho rằng sự phản đối hoặc sự đòi hỏi là cần thiết và phía bên
kia ( hoặc các nhà chức trách) sẽ bằng cách này hay cách khác làm
cho mọi việc trở nên đúng đắn. Đây là lối suy nghĩ thường gặp ở con
trẻ khi đòi hỏi bố mẹ chúng làm những điều mà chúng cho là đúng.
Lối tư duy phản đối chỉ mang lại lợi ích tốt nhất trong một số khía
cạnh cuộc sống, đó là những vấn đề liên quan đến sinh thái học; sự
tạm ngừng việc săn bắt cá voi, quyền phụ nữ, quyền cho những
người thiểu số, an toàn giao thông…sự phản đối có vai trò xóa bỏ
sự bất công và làm tăng nhận thức của mọi người về vấn đề đang
được quan tâm. Khi những lỗi lầm đã được xóa bỏ, sự phản đối cần
được dừng lại ở đó. Lúc này, sự việc cần được xem xét bằng lối tư
duy sáng tạo và xây dựng, lối tư duy phản đối không còn phù hợp
nữa.
Lối tư duy đòi hỏi cũng có những mặt tích cực nhất định. Nếu
không có sự đòi hỏi, chúng ta sẽ không thoát ra khỏi được những ý
tưởng cũ để phát triển những ý tưởng mới tốt hơn. Xét về mặt này,
đòi hỏi chính là một phần của tư duy sáng tạo.
Mặt tiêu cực của lối tư duy đòi hỏi là chúng ta đã sử dụng lối tư
duy này để đối lập với những ý tưởng hiện có và đòi hỏi phía bên kia
phải đưa ra những quan điểm bảo vệ ý tưởng của họ hoặc cải tiến
chúng.
Những điều mà chúng ta thu được từ mặt tích cực của lối tư duy
đòi hỏi chính là việc chúng ta biết được giá trị của những ý tưởng
đang tồn tại, sau đó chúng ta sẽ tạo ra một ý tưởng mới và đặt nó
song song với ý tưởng đó. Bằng cách này, chúng ta nhận ra được
những giá trị và ích lợi của ý tưởng mới.
Những cuộc cách mạng truyền thống luôn mang ý nghĩa tiêu cực:
xác định kẻ thù và chiến đấu để đánh bại hoàn toàn kẻ thù.
Nay đã đến lúc chúng ta thiết kế theo hướng phát triển những
cuộc cách mạng mang ý nghĩa tích cực, ở đó, sẽ chẳng có ai là kẻ
thù mà chỉ có sự kiến thiết làm cho mọi thứ tốt đẹp hơn.
Nhu cầu khẳng định mình là đúng
Nếu bạn đang phải giải quyết một vấn đề tính toán, mọi việc kết
thúc khi bạn có được đáp số đúng, bạn sẽ ngừng suy nghĩ ở đó.
Bạn không thể nào làm đúng hơn được nữa. Nhưng cuộc sống thực
tế lại không giống như vậy. Khi có một câu trả lời dường như là
“đúng” nhưng bạn vẫn phải tiếp tục suy nghĩ. Bạn phải tiếp tục nghĩ
bởi vì thường có những câu trả lời khác tốt hơn cái bạn đang có (xét
về mặt giá trị, giảm độ ô nhiễm, nhân quyền, lợi thế cạnh tranh…).
Cái tôi của chúng ta liên quan chặt chẽ đến nhu cầu khẳng định
mình là đúng. Đối với nền văn hóa phương tây, họ thể hiện nhu cầu
đó thông qua hệ thống tranh luận và hệ thống đối đầu. Chúng ta
thường chẳng mấy khi thẳng thắn nhận mình là kẻ thất bại bởi vì
vấn đề về cái tôi của mỗi cá nhân. Và kết quả là suy nghĩ của chúng
ta đầy khiêu khích và mang tính tự vệ hơn là suy nghĩ xây dựng.
Xét về mặt lý thuyết thì chúng ta nên cảm thấy vui vẻ khi thất bại
trong một cuộc tranh luận bởi vì đó là cách để bạn kết thúc với ý
tưởng bạn có ban đầu.
Trong một cuộc họp, ai cũng muốn ý tưởng của mình chiếm ưu
thế, cho dù đó không phải là ý tưởng tối ưu chỉ vì muốn khẳng định
cái tôi của bản thân. Và bởi vì vấn đề khẳng định cái tôi là một đòi
hỏi nghiêm túc nên một trong những khía cạnh cần học khi bạn học
cách suy nghĩ chính là học các kỹ năng phát triển để tách biệt suy
nghĩ khỏi cái tôi cá nhân. Tôi sẽ trình bày những kỹ năng đó trong
những phần tiếp theo của cuốn sách này.
Sự phân tích và sự thiết kế
Phân tích từ trước đến nay vẫn được xem là một thói quen trong
nếp suy nghĩ của chúng ta. Khi chúng ta học cấp ba hay trung cấp,
tất cả những điều chúng ta được học đều chú trọng đến kỹ năng
phân tích.
Không có điều gì phải nghi ngờ khi coi phân tích là một phần quan
trọng của tư duy. Thông qua phân tích, chúng ta phân chia tình
huống phức tạp thành những tình huống cụ thể mà chúng ta có thể
giải quyết từng phần. Cũng thông qua p...
Tiến sĩ Edward de bono sinh năm 1933 tại Malta, trong thế
chiến thứ II ông đã học ở cao đẳng St Edward và sau đó tiếp tục
vào đại học Malta. Tại đây ông nhận được các bằng cấp về tâm
lý học, sinh lý học và sau cùng nhận học hàm tiến sĩ y khoa.
Sau đó, ông còn nhận thêm một học vị tiến sĩ khác ở
Cambridge và tốt nghiệp bác sĩ ở đại học Malta.
Ông là giáo sư ở các đại học Oxford, Cambridge, Harvard, và
cũng là giáo sư thỉnh giảng ở hơn 52 quốc gia khác nhau. Ông
cũng cộng tác với các công ty lớn ở nhiều nơi trong đó có IBM,
Du POnt, Prudential, AT&T, British Airways, British Coal,
NTT(nhật), Ericsson (Thụy điển), Total(pháp), Siemens, và
Microsoft. Tại các hãng này, ông hoặc trực tiếp giảng dạy cho
người làm hoặc hướng dẫn các nhóm quản lý đầu não.
Edward de Bono có nhiều tác phẩm, chuyên khảo về tư duy
đặc biệt là các phương pháp tư duy định hướng. Rất nhiều
sách trong đó đã được dịch ra khoảng 34 ngôn ngữ.
Ô
Ông từng nhận giải Capire tại Madrid do cống hiến quan
trọng cho nhân loại năm 1988, và huân chương "Order of Merit"
do chính phủ Malta trao tặng năm 1995.
Trong cuốn sách quan trọng "The Mechanism of Mind" (cơ
chế của tư tưởng) xuất bản năm 1969, ông đã chỉ cho thấy làm
thế nào mạng lưới thần kinh tạo nên các dạng thức không đối
xứng đóng vai cơ sở cho nhận thức. Nhà vật lý học tiên phong,
giáo sư Murray Gell Mann đã đánh giá rằng tác phẩm của Bono
đã đi trước các nhà toán học trong 10 năm trong việc tìm hiểu
các lý thuyết hỗn độn (chaos theory), các hệ thống phi tuyến
tính, và các hệ thống tự quản (self-organising systems).
Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm "tư duy định hướng"
mà ngày nay được dùng rộng rãi để chỉ các phương pháp tư
duy sáng tạo.
Lối tư duy truyền thống dùng đến các phần tích, cân nhắc, và
bàn cãi. Trong một thế giới ổn định thì các cách thức đó là đủ
thích hợp để nhận diện ra các tình huống chuẩn và để áp dụng
các giải pháp chuẩn. Tuy nhiên, điều này không còn hiệu
nghiệm nữa trong một thế giới biến đổi mà ở đó các lời giải
chuẩn mực có thể không hiệu lực nữa. Do đó, việc chuẩn bị khả
năng sáng tạo, cấu trúc, và thiết kế từ trước để đáp ứng sự đổi
thay nhanh chóng của thế giới đã trở thành một nhu cầu khổng
lồ của toàn thế giới. Edward de Bono là một trong những nhà
tiền phong thâm nhập vào các lĩnh vực này. Ông cung cấp các
phương thức và công cụ cho lề lối tư duy mới: tư duy sáng tạo
và cấu trúc.
Ông đã chi tiết hóa một loạt các "phương pháp giải phóng tư
duy" - đây là các ứng dụng nhấn mạnh tư duy như là một hoạt
động để khai phóng hơn là một hành động phản ứng. Với việc
sử dụng cách viết thực tế, rõ ràng và tránh né các khái niệm có
tính hàn lâm, ông đã vận dụng các hiểu biết về tâm lí học qua
việc biến các lý thuyết về sự sáng tạo và nhận thức của con
[1]
người thành các công cụ thực sự khả dụng
ẩ
Trong số khoảng 65 tác phẩm của Edward de Bono, đã có
một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng việt như Tư Duy Là Tồn
Tại, Sáu Chiếc Nón Tư Duy, Để Có Một Tâm Hồn Đẹp Và Dạy Trẻ
Phương Pháp Tư Duy.
Trong dạy trẻ phương pháp tư duy, tác giả đưa ra những
cách thức đơn giản và thực tiễn để những bậc cha mẹ làm thế
nào có thể giúp trẻ phát triển được kỹ năng tư duy. Hiện nay,
nhiều người cho rằng, nhà trường chưa xem trọng việc dạy
cách tư duy cho học sinh, do vậy cuốn sách này rất hữu ích
trong việc giúp trẻ phát triển trí năng, óc sáng tạo và nhờ vậy,
[2]
trẻ sẽ tự tin hơn và sẽ dễ thành công trong cuộc sống hơn.
PHẦN I – LỜI TỰA
Một trong những tham vọng của tôi khi viết cuốn sách này là trên
thế giới sẽ ngày càng có nhiều người trẻ tuổi tự khẳng định rằng” tôi
sẽ là một người biết tư duy”.
Và tuyệt vời hơn nữa nếu họ tự tin khẳng định rằng “tôi là một
người biết tư duy - và tôi biết tư duy”.
Cuốn sách này phù hợp với những bậc làm cha mẹ và cả với
những em thiếu niên đọc để học cách tư duy.
Tư duy không phải là một điều khó khăn. Tư duy càng không phải
là một điều tẻ nhạt. Bạn không cần phải là thiên tài thì mới có thể trở
thành một người tư duy giỏi.
Bạn muốn theo kịp xu hướng phát triển của xã hội, bạn cần phải
là một người giỏi tư duy.
Những tình huống trong cuộc sống của mỗi cá nhân cũng luôn đòi
hỏi chúng ta phải là một người suy nghĩ tốt, và trong tương lai cùng
với sự gia tăng độ phức tạp của nhu cầu cũng như các cơ hội, đòi
hỏi này càng tăng lên.
Trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống đời thường, giỏi suy
nghĩ đóng vai trò thiết yếu cho sự tồn tại, cho thành công và trong
cạnh tranh.
Cuốn sách này không dành cho bạn nếu:
1- Bạn tin rằng chỉ cần thông minh là đủ. Nếu bạn tin rằng
một người rất thông minh dĩ nhiên sẽ là một người giỏi tư duy, và
một người kém thông minh hơn thì tư duy sẽ tồi hơn, thì cuốn sách
này cũng không dành cho bạn.
Dựa trên kinh nghiệm, tôi rút ra rằng những người thông minh
không phải luôn là những người giỏi tư duy. Rất nhiều người thông
minh lại rơi vào “chiếc bẫy của sự thông minh” và biến mình thành
một người tư duy tồi. Thông minh là một khả năng. Suy nghĩ là kỹ
năng để vận dụng khả năng đó. Trong những trang tiếp theo tôi sẽ
trình bày kỹ hơn vấn đề này.
2- Bạn tin rằng bạn đã được học các kỹ năng suy nghĩ ở
trường học. Nếu bạn tin rằng trường học là nơi phù hợp để bạn học
cách suy nghĩ và trường học đã dạy bạn điều này đủ rồi, thì bạn
cũng không nên đọc cuốn sách này.
Theo kinh nghiệm của tôi thì hầu hết các trường học không dạy
cho học sinh cách tư duy. Một vài trường học chỉ dạy học sinh
những kỹ năng tư duy rất giới hạn, bao gồm phân loại thông tin và
phân tích. Gần đây, dấy lên phong trào dạy tư duy cho học sinh. Một
số trường đã bắt đầu dạy học sinh “lối tư duy phê phán”. Điều này là
đáng làm, nhưng nếu chỉ dạy học sinh “lối tư duy phê phán” thì chưa
đầy đủ, thậm chí rất nguy hiểm (tôi sẽ giải thích điều này sau).
Tôi đã xây dựng chương trình giảng dạy tư duy, chương trình
cort. Chương trình này hiện đang được hàng triệu sinh viên ở các
quốc gia khác nhau áp dụng. Mặc dầu vậy, dường như ở trường
học, họ vẫn chưa áp dụng chương trình này để dạy cho học sinh.
3- Bạn tin rằng không thể dạy các kỹ năng tư duy một
cách trực tiếp. Nếu bạn cho rằng kỹ năng tư duy chỉ có thể phát triển
thông qua những vấn đề cụ thể hoặc khi ứng dụng trong cuộc sống
hàng ngày, cuốn sách này cũng không phù hợp với bạn.
Hầu hết chúng ta khi đi học đều được dạy và tin rằng tư duy
không thể được dạy trực tiếp. Hiện nay, mọi người đã bắt đầu thay
đổi quan điểm này khi thực tế và cả những nghiên cứu chỉ ra rằng
những kỹ năng này có thể học trực tiếp. Bởi vì chúng ta tốn quá
nhiều thời gian suy nghĩ những điều mà bản thân nó không cải thiện
được kỹ năng tư duy của chúng ta.
Một nhà báo quen với lối đánh máy gõ hai ngón sẽ vẫn sử dụng
lối đánh máy này cho đến tận tuổi 60. Điều này không phải vì ông ta
không được thực hành nhiều. Nếu ông ta chỉ luyện tập đánh máy
với cách đánh chỉ sử dụng hai ngón tay, ông ta chỉ có thể trở thành
một người đánh máy hai ngón giỏi. Nhưng nếu khi chúng ta còn trẻ
và được tham gia một khóa học đánh máy, có thể chỉ cần một khóa
ngắn hạn, thì về sau này, chúng ta luôn là những người đánh máy
tốt. Điều tương tự như vậy cũng xảy ra với cách suy nghĩ. Thực
hành thôi là chưa đủ.
Edward de
Bono
LỜI GIỚI THIỆU
TẠI SAO CHÚNG TA CẦN SUY NGHĨ MỚI VỀ CÁCH TƯ DUY
Thông tin và suy nghĩ
Thông tin rất quan trọng. Thông tin cũng dễ dạy. Thông tin cũng
dễ kiểm tra. Cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta đến
trường và được dạy rất nhiều điều liên quan đến thông tin.
Suy nghĩ không thay thế cho thông tin nhưng thông tin có thể là
một trong những thứ thay thế của suy nghĩ.
Các định nghĩa thần học đều cho rằng chúa trời là đấng tối cao có
kiến thức tuyệt đối và hoàn hảo. Khi ai đó có kiến thức tuyệt đối và
hoàn hảo, người đó chắc chắn không cần phải suy nghĩ gì nữa.
Trong một tầm hiểu biết nào đó, chúng ta có thể là những người
tích lũy đầy đủ thông tin, và đó là những vấn đề mà khi gặp phải
chúng ta sẽ không cần phải suy nghĩ.
Trong tương lại, ta sẽ để cho máy tính giải quyết những việc như
vậy.
Trừ khi chúng ta có đầy đủ thông tin, chúng ta cần suy nghĩ để có
cách sử dụng tốt nhất những thông tin chúng ta có. Khi máy tính và
công nghệ thông tin ngày càng cung cấp cho chúng ta nhiều thông
tin, chúng ta cần suy nghĩ để tránh bị ngập vào sự rối rắm bởi tất cả
những thông tin đó.
Khi chúng ta xem xét sự việc diễn ra trong tương lai, chúng ta cần
suy nghĩ bởi vì chúng ta sẽ không thể có đầy đủ thông tin về tương
lai.
Để sáng tạo, thiết kế, làm kinh doanh hay làm bất cứ điều gì mới,
chúng ta đều cần suy nghĩ. Chúng ta suy nghĩ để sử dụng thông tin
tốt hơn khiến cho chúng ta cạnh tranh tốt hơn.
Như vậy, chỉ có thông tin không là chưa đủ. Chúng ta cần có cả
suy nghĩ. Nhưng thật không dễ gì để thực hiện điều này. Tất cả
thông tin đều có giá trị. Thông tin mới càng có giá trị bởi vì nó giúp
chúng ta có thêm kiến thức. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể
khuyến khích mọi người giảm thời gian dạy thông tin và dành thời
gian dạy các kỹ năng suy nghĩ giúp sử dụng thông tin một cách tốt
nhất? Chúng ta cần cân bằng giữa thông tin và kỹ năng suy nghĩ.
Trí thông minh và suy nghĩ.
Niềm tin rằng sự thông minh và sự tư duy là giống nhau đã dẫn
đến hai kết luận không phù hợp sau trong việc dạy học:
1- Đối với những học sinh rất thông minh thì chẳng cần
dạy chúng phải suy nghĩ như thế nào vì mặc nhiên chúng cũng sẽ là
những học sinh giỏi suy nghĩ.
2- Đối với những học sinh không thông minh thì chẳng thể
dạy chúng cách suy nghĩ thế nào cho tốt vì dạy thế nào thì chúng
cũng không thể suy nghĩ tốt được.
Mối liên hệ giữa sự thông minh và cách suy nghĩ cũng giống như
mối liên hệ giữa chiếc ô tô và người lái ô tô. Một chiếc ô tô động cơ
tối tân có thể bị một người lái tồi. Trong khi một chiếc ô tô động cơ
kém hơn nhưng có thể có một người điều khiển rất tốt. Động cơ của
một chiếc ô tô chính là tiềm năng của chiếc ô tô chũng giống như
thông minh là tiềm năng của trí óc. Kỹ năng của người lái xe quyết
định làm thế nào để sử dụng hết tiềm năng của ô tô. Kỹ năng của
người tư duy quyết định xem sẽ phát huy sự thông minh đó như thế
nào.
Tôi thường định nghĩa tư duy là “sự ứng dụng tài năng một cách
tài tình dựa theo kinh nghiệm”.
Có nhiều người rất thông minh thường chọn một cái nhìn về một
sự việC và Sử dụng sự thông minh của họ để bảo vệ cho cái nhìn
đó. Và bởi vì họ làm điều này rất giỏi nên họ sẽ chẳng bao giờ thấy
cần phải khám phá sự việc hoặc lắng nghe những quan điểm khác.
Đây là một cách suy nghĩ tồi và nó chính là “chiếc bẫy của sự thông
minh”.
Quan sát biểu đồ 1 ở trang bên, một người nhìn tình huống và
ngày lập tức xét đoán nó.
Trong khi đó, biểu đồ 2, một người xem xét tình huống rồi sau đó
tiếp tục khám phá tình huống. Một người rất thông minh có thể thực
hiện quá trình nhìn và quá trình xét đoán rất tốt, nhưng nếu thiếu đi
quá trình khám phá thì đó vẫn là một quá trình tư duy tồi.
Những người rất thông minh thường là những người rất giỏi trong
việc giải đố hoặc giải quyết các vấn đề khi tất cả các dữ liệu đã có.
Nhưng họ không phải là những người xuất sắc trong những tình
huống đòi hỏi họ phải đi tìm thêm dữ liệu và đánh giá những dữ liệu
đó.
Và điều cuối cùng là những người rất thông minh lại thường là
những người bảo vệ cái tôi của riêng mình. Họ thích được nhìn
nhận rằng họ luôn là những người phải. Điều này có nghĩa là họ sẵn
sàng dùng nhiều thời gian vào việc công kích và chỉ trích quan điểm
của những người khác, bởi vì đó là cách dễ dàng để chứng minh
người khác sai. Điều này cũng có nghĩa là những người rất thông
minh không phải là những người sẵn sàng chấp nhận những rủi ro
trong lối suy đoán bởi nếu thế họ không thể luôn dám chắc là họ
đúng.
Và tất nhiên, chẳng có điều gì ngăn cản một người rất thông minh
trở thành một người suy nghĩ tài giỏi nhưng điều này không tự nó
đến. Chúng ta cần phải học để phát triển kỹ năng suy nghĩ.
Sự thông minh và sự hiểu biết.
Tại trường học, trong trò chơi giải đố, trong những kỳ kiểm tra
hoặc kỳ thi, nói chung là trong hệ thống đánh giá của chúng ta,
chúng ta luôn coi trọng sự thông minh.
Một chàng trai thông minh có thể kiếm được rất nhiều tiền tại thị
trường chứng khoán phố wall, trong khi cuộc sống riêng tư của anh
ta lại rối như tơ vò.
Sự thông minh được ví như tiêu cự của ống kính máy quay phim,
trong khi sự hiểu biết lại được xem như bề rộng của ống kính.
Lý do chúng ta không chú ý nhiều đến sự hiểu biết bởi vì chúng ta
cho rằng sự hiểu biết có được cùng với tuổi tác và kinh nghiệm và
chẳng ai có thể dạy ta được sự hiểu biết. Đây là một cách hiểu sai
lầm. Ai cũng có thể học để có được sự hiểu biết. Và nội dung chính
của cuốn sách này là chỉ cho bạn để bạn học được điều đó. Sự hiểu
biết phụ thuộc chặt chẽ vào sự nhận thức. Bạn sẽ phải học về cách
nhận thức, chứ không phải học về sự logic.
Liệu tư duy có phải là một việc khó khăn?
Chúng ta luôn cố gắng phát triển kỹ năng tư duy của mọi người
bằng cách đưa ra những công việc quá khó để họ làm?
Tất nhiên, nếu suy nghĩ là một việc dễ dàng, thì đó cũng chẳng có
gì để cố gắng, để đạt được, và để học hỏi.
Trong hầu hết các lĩnh vực phát triển kỹ năng (tennis, trượt tuyết,
âm nhạc, nấu ăn) chúng ta ứng dụng những nhiệm vụ tương đối khó
khăn. Nói theo cách khác, chúng ta chỉ có thể làm tốt những lĩnh vực
trên chỉ khi chúng ta luyện tập thành thục những kỹ năng để thực
hiện chúng. Điều này tạo dựng nên sự tư tin và sự thành thục trong
kỹ năng. Chúng ta muốn làm những công việc mà không làm mất đi
sự tự tin của chúng ta. Đó chính là lý do tại sao có nhiều người lại từ
bỏ việc tư duy. Họ nhận thấy đó là một việc nhàm chán bởi vì nó quá
khó khăn. Bạn sẽ chẳng thích thú thể hiện điều gì khi mà bạn không
có khả năng để thể hiện chúng.
Tôi không tin rằng những vấn đề quá phức tạp, những trò giải đố,
những trò chơi mang tính chất toán học là những cách tốt để dạy
cách tư duy. Đó cũng chính là lý do tại sao những nhiệm vụ tư duy
và những bài tập ứng dụng trong cuốn sách này là những điều
không quá khó khăn.
Hơn nữa, kinh nghiệm của mọi người cũng chỉ ra rằng không phải
bạn cứ làm được những điều vô cùng khó khăn thì khi gặp những
việc ít khó khăn hơn bạn cũng sẽ giải quyết trôi chảy. Nhiều người
có khả năng tư duy những công việc to tát nhưng khi gặp những
việc đơn giản hơn họ lại thể hiện sự tư duy kém cỏi hơn.
Thế nào là một người tri thức?
Quy luật đầu tiên của những người quá đam mê công việc trí óc
là “nếu bạn không có nhiều điều để nói, bạn hãy cố gắng trình bày
nó theo cách phức tạp nhất mà bạn có thể”. Một người tư duy phức
tạp sợ hãi sự giản đơn cũng như người nông dân sợ khô hạn. Nếu
không có gì phức tạp, liệu họ sẽ có gì để làm hoặc để viết về nó? .
Tôi đã có bài nói chuyện với những nhà sư phạm, những người ít
nhiều cũng làm cho tôi hiểu rằng họ muốn bài nói chuyện của tôi thật
ấn tượng đối với họ, nhưng lại quá khó để họ không thể thực hành
được.
Mọi người cũng thường phức tạp hóa vấn đề ngay cả trong việc
mô tả. Nếu bạn muốn, bạn có thể phân chia một chiếc bút chì thành
mười phần khác nhau và sau đó bạn bắt đầu quá trình mô tả mối
liên hệ của mười phần đó với nhau. Và khi bạn chỉ có một chút kiến
thức ít ỏi về biên đạo múa, bạn cũng muốn biên đạo những điệu
múa phức tạp. Cũng như khi chơi trò chơi đố ô chữ, bạn chẳng hề bị
giới hạn về từ ngữ và bạn tha hồ chọn từ mà bạn thích.
Bạn thường bình luận về sự phức tạp của những người khác và
ngay cả nhận xét của các nhà phê bình. Và mặc nhiên nó là một quá
trình phát triển trong tư duy của bạn. Những nhận xét sẽ nhanh
chóng trở thành lựa chọn của bạn hơn là những hành động cụ thể,
và như vậy, chúng ta coi điều này như “ học bổng quý giá chúng ta
nhận được”.
Cũng có những người xem quá trình này không lôi cuốn và không
cần thiết. Điều này đặc biệt đúng với những người chú trọng đến kết
quả thực tế. Họ đặt ngang hàng sự “tư duy phức tạp” với “sự suy
nghĩ” và kết quả là họ từ bỏ việc suy nghĩ. Cách nhìn nhận này thật
đáng tiếc.
Bạn có thể trở thành một người tư duy mà không cần phải là một
người có suy nghĩ quá phức tạp. Trong thực tế, nhiều người trí thức
không hẳn đã là những người tư duy tốt.
Tác động phản hồi và những suy nghĩ tiên phong.
Trong trường học, chúng ta thường đặt giấy, sách, bảng đen
trước mặt học sinh. Học sinh sau đó được yêu cầu đưa ra hành
động dựa trên những gì các em nhìn thấy. Đây cũng chính là lý do
tại sao ở trường học, trẻ em được dạy lối tư duy phản hồi.
“đây là một sự việc, em nghĩ gì về sự việc này?”.
Bạn không thể dễ dàng yêu cầu các em học sinh hãy dời trường
và tổ chức một doanh nghiệp. Bạn cũng không dễ dàng yêu cầu học
sinh đưa ra cách giải quyết về những vấn đề xảy ra thực tế hoặc
đảm nhận một dự án thực tế. Bởi đơn giản ở trường học không đặt
ra mục tiêu là công việc thực tế.
Điều này cũng xảy ra đối với lối suy nghĩ phản hồi hành động phù
hợp với truyền thống tư duy phức tạp hóa vấn đề của các học giả: “
chúng ta hành động thế nào đối với những sự việc đang tồn tại?”.
Nhưng trường họC và Sự giáo dục không phải là một trò chơi.
Những tình huống sống thực tế liên quan chặt chẽ đến lối suy nghĩ
tiên phong. Điều này đồng nghĩa với yêu cầu mọi người hãy ra ngoài
và bắt tay làm việc. Bạn phải tự đi tìm thông tin, không phải tất cả
mọi thông tin đã nằm ở đó và chờ bạn. Nếu bạn chỉ ngồi yên trên
ghế của bạn thì sẽ chẳng có việc gì xảy ra. Thật là dễ để đến nhà
hàng ngồi ăn với những món ăn đã được dọn sẵn trên bàn ăn.
Nhưng việc đi chợ mua đồ ăn (hoặc tự trồng và nuôi dưỡng chúng)
và sau đó chế biến chúng lại là một việc hoàn toàn khác. Việc không
coi trọng lối suy nghĩ tiên phong hơn lối suy nghĩ phản hồi không
phải là lỗi của hệ thống giáo dục hiện thời của chúng ta, bởi tư duy
tiên phong không giản đơn như tư duy phản hồi. Nhưng sai lầm của
họ ở đây chính là đã ủng hộ và coi lối tư duy phản hồi là lối tư duy
phù hợp.
Từ “sự thực hiện”
Tất cả mọi người biết sự biết đọc, biết viết, những con số có ý
nghĩa gì. Tôi đã phát minh ra từ “sự thực hiện” vài năm trước đây để
chỉ toàn bộ các kỹ năng hành động.
Sẽ là một điều hoang tưởng khi chúng ta cho rằng những điều
chúng ta được học đã là đủ. Nếu bạn có kiến thức đầy đủ thì việc
thực hiện hành động thật đơn giản và dễ dàng. Nếu bạn có được
một tấm bản đồ chi tiết, mọi việc sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, thế giới thực tại lại khác việc học rất nhiều. Với kinh
nghiệm tích lũy sau nhiều năm làm kinh doanh cũng như công việc
hành chính nhà nước đã chỉ cho tôi thấy rằng hành động không bao
giờ là dễ dàng. Hành động bao giờ cũng đòi hỏi sự suy nghĩ lớn lao.
Cảm giác chịu đựng và những suy nghĩ theo bản năng đã không còn
là lối suy nghĩ phù hợp.
Chúng ta có những người phải bàn chuyện, có những quyết định
cần được đưa ra, có những chiến lược cần được thiết kế và giám
sát. Và có những kế hoạch cần được đưa ra và thực hiện. Chúng ta
còn có cả những mâu thuẫn, thương lượng, đàm phán và tiến bộ.
Có những điều cần phải cân nhắc về mặt giá trị, và cần đến cả sự
cân bằng các yếu tố để đạt được sự thỏa hiệp. Tất cả những điều
này đều đòi hỏi một cấp độ thực hiện cao.
Trong một thế giới cạnh tranh, những quốc gia công nghiệp hóa
thì “sự thực hiện” luôn là người bạn đồng hành. Đối với mỗi cá nhân,
với mỗi thanh niên, những người chưa có được những kỹ năng thực
hiện nên đặt đó là một mục tiêu cho việc học tập.
Sự thực hiện bao gồm nhiều khía cạnh của suy nghĩ như: cái nhìn
của những người khác, ưu thế, mục tiêu, sự phối hợp, kết quả, sự
suy đoán, quyết định, xung đột, giải pháp, hành động và nhiều khía
cạnh khác trong lối suy nghĩ ứng dụng trong việc phân tích thông tin.
Tất cả những điều này là những bộ phận của lối suy nghĩ tiên
phong, chứ không phải lối suy nghĩ phản hồi quen thuộc.
Lối suy nghĩ phê phán
Lối suy nghĩ truyền thống phương tây thường rất coi trọng lối suy
nghĩ phê phán. Điều này một phần là do ảnh hưởng của lối suy nghĩ
của những người hy lạp cổ, sau này được áp dụng trong thời kỳ
phục hưng, một phần xuất phát từ nhu cầu của các giáo sỹ thời
trung cổ cần một lối tư duy để phản bác lại dị giáo.
Lối suy nghĩ phê phán chỉ phát huy giá trị cao trong hai hệ thống
xã hội. Một là trong một xã hội vô cùng ổn định (như thời hy lạp cổ
đại và thời trung cổ). Và bất kỳ một ý tưởng mới hoặc một sự xâm
phạm nào làm nảy sinh sự thay đổi cần bị phê phán. Chế độ xã hội
thứ hai là một xã hội tràn ngập những tư tưởng kiến thiết và hành
động và lối tư duy phê phán cần thiết để chọn lựa những giá trị đúng
đắn ra khỏi những ý tưởng không xác thực.
Nhưng xã hội chúng ta đang sống lại không phải là một trong hai
thể chế xã hội trên. Có rất nhiều điều cần thay đổi và còn thiếu rất
nhiều những ý tưởng mới và những động lực sáng tạo.
Hãy tưởng tượng ra một đội dự án gồm sáu nhà phê bình lỗi lạc
ngồi bàn bạc giải pháp cho tình hình ô nhiễm trong khu vực. Chẳng
ai trong số họ có thể sử dụng năng lực trí óc được đào tạo cao siêu
của họ cho đến tận khi có ai đó đưa ra một gợi ý thực tế. Điều khó
khăn ở đây là lối tư duy phê phán chính là lối tư duy phản hồi. Trước
hết, phải có cái gì đó thì mới có thể phê phán được. Nhưng liệu ý
tưởng đó từ đâu đến? Những đề xuất, những gợi ý là kết quả của lối
tư duy xây dựng, sáng tạo và nảy sinh.
Nếu chúng ta đào tạo một người để tránh cho họ tất cả các lỗi
trong suy nghĩ, liệu đó có phải là một người giỏi tư duy. Hoàn toàn
không phải như vậy.
Nếu chúng ta huấn luyện một lái xe tránh tất cả các lỗi lầm trong
việc lái xe, liệu đó có phải là một người lái xe tuyệt vời?
Chắc chắn là không phải như vậy bởi vì người này sẽ cất ngay xe
vào gara để tránh được mọi lỗi lầm có thể xảy ra. Việc tránh được
những sai lầm của lái xe một cách tốt nhất chính là cách để anh ta
lái xe đi đâu đó. Tương tự như vậy, lối suy nghĩ phê phán chỉ có giá
trị nếu chúng ta có được một suy nghĩ xây dựng và sáng tạo. Liệu
có ích gì nếu bạn có được bộ yên cương nhưng bạn lại không có
ngựa để thắng.
Đây là một vấn đề hết sức quan trọng bởi vì ở nhiều trường học
hiện nay tin rằng việc dạy cho học sinh lối tư duy phê phán là phù
hợp. Họ thực hiện lối giáo dục như vậy bởi nó phù hợp với việc coi
trọng lối tư duy phản hồi và cũng bởi đó là lối suy nghĩ truyền thống.
Lối tư duy phê phán là lối tư duy quan trọng và có giá trị nhất định
trong hệ thống tư duy. Nhưng đó chỉ là một bộ phận của hệ thống tư
duy. Và để trở thành một người giỏi suy nghĩ, chúng ta phải có lối tư
duy toàn diện.
Lối tư duy phê phán tạo ra rất nhiều rào cản nguy hiểm trong suy
nghĩ. Ngay cả những người được coi là thông minh nhất cũng có thể
bị mắc kẹt trong lối suy nghĩ phê phán và không thế phát triển được
các kỹ năng tư duy xây dựng và sáng tạo. Tại trường học, học sinh
không được cho thời gian cũng như yêu cầu sự cố gắng để học các
khía cạnh của suy nghĩ xây dựng và sáng tạo bởi các nhà giáo dục
cho rằng họ đã dạy học sinh sự suy nghĩ rồi. Mối nguy hiểm khác
nữa của lối suy nghĩ phê phán là làm nảy sinh tính kiêu ngạo, bởi vì
lối suy nghĩ phê phán luôn cho rằng mình đúng, ngay cả khi họ thiếu
thông tin hoặc nhận thức sai lầm, làm nảy sinh sự kiêu ngạo. Tôi sẽ
bàn cụ thể vấn đề này ở phần sau). Những kỹ năng của lối suy nghĩ
phê phán không thích hợp với những kỹ năng của lối suy nghĩ sáng
tạo và xây dựng bởi vì suy nghĩ xây dựng và sáng tạo đòi hỏi sự suy
nghĩ để làm nảy sinh những ý tưởng mới. Sự phê phán bao giờ
cũng đơn giản hơn rất nhiều so với sự sáng tạo.
Hệ thống đối đầu
Tại nước mỹ, cứ 350 người dân thì có một luật sư, trong khi đó
con số này ở nhật bản là 9000 người dân. Sở dĩ có sự khác biệt lớn
như vậy là do ở mỹ mọi người vẫn suy nghĩ theo lối suy nghĩ truyền
thống phương tây, đó chính là hệ thống đối đầu. Lối tư duy này nảy
sinh trực tiếp từ thói quen suy nghĩ phê phán và tìm ra sự thật thông
qua đối thoại đối đầu.
Theo lối tư duy này thì tranh luận và cãi vã được xem như một
cách chính xác để khám phá sự việc bởi vì cả hai bên đều có động
cơ rõ rệt. Nhưng bởi vì nảy sinh từ những động cơ cụ thể, nên lối
suy nghĩ này lại bỏ qua sự khám phá. Liệu, một bên có sẵn sàng
đưa ra những ý kiến và quan điểm mà có lợi cho phía bên kia?
Hệ thống đối đầu chính là lối suy nghĩ theo kiểu tôi đúng thì anh
sai.
Hệ thống đối đầu thường chính là nền tảng của thể chế chính trị,
luật pháp, khoa học (trong một số phạm vi) và trong cả cuộc sống
hàng ngày. Nhưng nó là một hệ thống rất hạn chế và là một hệ
thống có nhiều thiếu sót (các bạn sẽ hiểu điều này kỹ hơn khi nghiên
cứu cuốn sách tôi đúng thì anh sai của tôi).
Sự đối ngược, sự khiêu khích và sự xung đột thường chỉ gia tăng
khi sử dụng hệ thống đối đầu. Xung đột thường đòi hỏi một kết luận
được thiết lập hơn là một thử nghiệm về sức mạnh của sự đối đầu.
Sự đòi hỏi và sự phản đối
“tại sao tôi lại phải thức dậy vào buổi sáng?”
“tại sao tôi lại phải mang ca ra vat"
“tại sao tôi lại phải đi đến trường học?”
Đối với nhiều người, ý tưởng về sự suy nghĩ được coi như sự đòi
hỏi, sự phản đối và sự tranh luận. Đây chính là lý do tại sao mà
nhiều chính phủ, cơ quan giáo dục, các nhà chức trách và cả các
bậc phụ huynh thường phản đối ý tưởng dạy lối suy nghĩ. Họ xem
việc suy nghĩ chính là nguyên nhân gây ra tình trạng chia rẽ, sự
phản đối và sự tranh luận không có chiều chấm dứt. Thực chất thì
những khả năng trên chỉ xảy ra khi lối tư duy phản đối theo mẫu cũ
chiếm ưu thế trong xã hội.
Nhưng chương trình dạy tư duy cort hiện nay được nhiều nền văn
hóa và nhiều hệ tư tưởng áp dụng (từ những người thiên chúa giáo,
những người theo đạo tin lành, những người theo chủ nghĩa mac,
những người hồi giáo, những người trung hoa). Bởi vì chương trình
cort trình bày lối suy nghĩ xây dựng, lối suy nghĩ khác biệt nhiều so
với lối suy nghĩ yêu cầu và phản đối. Trên thực tế, một số chính phủ
đã xem việc dạy lối tư duy xây dựng như là một cách bảo vệ tốt nhất
để chống lại sự tràn lan của lối tư duy phản đối mà những người trẻ
tuổi không được học cách suy nghĩ thường đem áp dụng.
Lối tư duy đòi hỏi có mối liên hệ khá chặt chẽ đối với lối suy nghĩ
phê phán và lối suy nghĩ đối đầu. Lối suy nghĩ này xuất phát từ quan
niệm cho rằng sự phản đối hoặc sự đòi hỏi là cần thiết và phía bên
kia ( hoặc các nhà chức trách) sẽ bằng cách này hay cách khác làm
cho mọi việc trở nên đúng đắn. Đây là lối suy nghĩ thường gặp ở con
trẻ khi đòi hỏi bố mẹ chúng làm những điều mà chúng cho là đúng.
Lối tư duy phản đối chỉ mang lại lợi ích tốt nhất trong một số khía
cạnh cuộc sống, đó là những vấn đề liên quan đến sinh thái học; sự
tạm ngừng việc săn bắt cá voi, quyền phụ nữ, quyền cho những
người thiểu số, an toàn giao thông…sự phản đối có vai trò xóa bỏ
sự bất công và làm tăng nhận thức của mọi người về vấn đề đang
được quan tâm. Khi những lỗi lầm đã được xóa bỏ, sự phản đối cần
được dừng lại ở đó. Lúc này, sự việc cần được xem xét bằng lối tư
duy sáng tạo và xây dựng, lối tư duy phản đối không còn phù hợp
nữa.
Lối tư duy đòi hỏi cũng có những mặt tích cực nhất định. Nếu
không có sự đòi hỏi, chúng ta sẽ không thoát ra khỏi được những ý
tưởng cũ để phát triển những ý tưởng mới tốt hơn. Xét về mặt này,
đòi hỏi chính là một phần của tư duy sáng tạo.
Mặt tiêu cực của lối tư duy đòi hỏi là chúng ta đã sử dụng lối tư
duy này để đối lập với những ý tưởng hiện có và đòi hỏi phía bên kia
phải đưa ra những quan điểm bảo vệ ý tưởng của họ hoặc cải tiến
chúng.
Những điều mà chúng ta thu được từ mặt tích cực của lối tư duy
đòi hỏi chính là việc chúng ta biết được giá trị của những ý tưởng
đang tồn tại, sau đó chúng ta sẽ tạo ra một ý tưởng mới và đặt nó
song song với ý tưởng đó. Bằng cách này, chúng ta nhận ra được
những giá trị và ích lợi của ý tưởng mới.
Những cuộc cách mạng truyền thống luôn mang ý nghĩa tiêu cực:
xác định kẻ thù và chiến đấu để đánh bại hoàn toàn kẻ thù.
Nay đã đến lúc chúng ta thiết kế theo hướng phát triển những
cuộc cách mạng mang ý nghĩa tích cực, ở đó, sẽ chẳng có ai là kẻ
thù mà chỉ có sự kiến thiết làm cho mọi thứ tốt đẹp hơn.
Nhu cầu khẳng định mình là đúng
Nếu bạn đang phải giải quyết một vấn đề tính toán, mọi việc kết
thúc khi bạn có được đáp số đúng, bạn sẽ ngừng suy nghĩ ở đó.
Bạn không thể nào làm đúng hơn được nữa. Nhưng cuộc sống thực
tế lại không giống như vậy. Khi có một câu trả lời dường như là
“đúng” nhưng bạn vẫn phải tiếp tục suy nghĩ. Bạn phải tiếp tục nghĩ
bởi vì thường có những câu trả lời khác tốt hơn cái bạn đang có (xét
về mặt giá trị, giảm độ ô nhiễm, nhân quyền, lợi thế cạnh tranh…).
Cái tôi của chúng ta liên quan chặt chẽ đến nhu cầu khẳng định
mình là đúng. Đối với nền văn hóa phương tây, họ thể hiện nhu cầu
đó thông qua hệ thống tranh luận và hệ thống đối đầu. Chúng ta
thường chẳng mấy khi thẳng thắn nhận mình là kẻ thất bại bởi vì
vấn đề về cái tôi của mỗi cá nhân. Và kết quả là suy nghĩ của chúng
ta đầy khiêu khích và mang tính tự vệ hơn là suy nghĩ xây dựng.
Xét về mặt lý thuyết thì chúng ta nên cảm thấy vui vẻ khi thất bại
trong một cuộc tranh luận bởi vì đó là cách để bạn kết thúc với ý
tưởng bạn có ban đầu.
Trong một cuộc họp, ai cũng muốn ý tưởng của mình chiếm ưu
thế, cho dù đó không phải là ý tưởng tối ưu chỉ vì muốn khẳng định
cái tôi của bản thân. Và bởi vì vấn đề khẳng định cái tôi là một đòi
hỏi nghiêm túc nên một trong những khía cạnh cần học khi bạn học
cách suy nghĩ chính là học các kỹ năng phát triển để tách biệt suy
nghĩ khỏi cái tôi cá nhân. Tôi sẽ trình bày những kỹ năng đó trong
những phần tiếp theo của cuốn sách này.
Sự phân tích và sự thiết kế
Phân tích từ trước đến nay vẫn được xem là một thói quen trong
nếp suy nghĩ của chúng ta. Khi chúng ta học cấp ba hay trung cấp,
tất cả những điều chúng ta được học đều chú trọng đến kỹ năng
phân tích.
Không có điều gì phải nghi ngờ khi coi phân tích là một phần quan
trọng của tư duy. Thông qua phân tích, chúng ta phân chia tình
huống phức tạp thành những tình huống cụ thể mà chúng ta có thể
giải quyết từng phần. Cũng thông qua p...
 





