Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Ngôi Nhà Mặt Trời - Nguyễn Thiên Ngân

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:32' 25-03-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:32' 25-03-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Ngôi nhà mặt trời
Tác giả: Nguyễn Thiên Ngân
Thể loại: Tập truyện ngắn
Số trang: 204
Kích thước: 12x19 cm
Phát hành: NXB Phụ Nữ
Năm xuất bản: 2008
Nguồn text: Twinkle eyes
Ngôi Nhà Mặt Trời là tập truyện ngắn của Nguyễn Thiên Ngân. Tình yêu của tuổi đôi
mươi - trong trẻo, da diết và cô đơn. Nhưng nếu chỉ là "kể chuyện" đơn thuần, thế giới
nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Thiên Ngân đã không làm người ta phải
nhớ. Tinh anh, sâu sắc và trường ngôn ngữ đẹp, ở cây bút trẻ này đang tiềm ẩn một
nội lực lớn. Đợi những câu chuyện của Ngân, cũng giống như đợi những cơn mưa
sớm mai trên phố núi - êm, sâu, lành lạnh, trong mù sương có lấp lánh ánh sáng...
Các tác phẩm đã xuất bản:
- Những phố dài ướt mưa (2005)
- Hai chiếc xe khóa chặt vào nhau (2006)
- Cặp vòng mây (2007)
- Ngôi nhà mặt trời (2008)
- Đường còn dài, còn dài (2009)
- Những chuyển điệu (2010)
- Kỳ nghỉ của mỗi người (2011)
- Mình phải sống như mùa hè năm ấy (2012)
- Ngày hoa hướng dương (2013)
- Lạ lùng sao, đớn đau này (2013)
- Ôm mỏ neo nằm mộng những chân trời (2015)
- Có người sực tỉnh cơn mơ (2018)
E-book này được thực hiện trên tinh thần thiện nguyện, phi lợi nhuận và phục vụ
cộng đồng người đọc chưa có điều kiện mua sách giấy.
TVE-4U
CÙNG ĐỌC - CÙNG CHIA SẺ!
Bản giao hưởng số 9
Có lẽ anh không cần em nữa! Hắn nói với nàng như vậy, một
sáng thức dậy ngồi bên cửa sổ. Từng vệt nắng ban mai đọng
trên mặt hắn, tố cáo từng nét đớn đau sau khi hắn nói câu đó.
Có lẽ anh không cần em nữa.
Nàng đứng lặng ở bậu cửa nhà tắm. Chiếc khăn bông trên tay
nàng rơi xuống, trắng hếu như một lá cờ đầu hàng. Mái tóc ướt
bù xù rỏ những giọt nước lớn xuống sàn.
Nàng vừa tắm xong, tinh khiết và tươi mới như một cơn gió
tháng xuân. Nhưng giờ đây nàng đang đứng đó, với đôi mắt tối
màu hụt hẫng.
Gì vậy chứ?! Hắn vừa nói hắn không cần nàng nữa. Thật đấy.
Hắn đã nói như vậy. Tiếng “không cần” thốt lên như chực chờ ở
cửa miệng hắn lâu lắm rồi. Nó bật ra thản nhiên, và sau đó, thì
mặt hắn tràn vẻ đau đớn như vừa bị tát. Hắn là kẻ kịp nghe và
kịp hiểu cái từ ấy trước nàng.
Bóng tối hụt hẫng vẫn lan rộng trong đôi mắt nàng. Nàng từ
từ cúi xuống nhặt chiếc khăn lên, lúng túng che giấu cử chỉ
nuốt nước bọt. Nàng thấy cổ họng mình khô khốc. Rồi, với
chiếc khăn run run trên tay, nàng nhìn thẳng vào mắt hắn, nói
chậm.
- Có lẽ?
Hắn ngồi đông cứng, cúi đầu để tránh ánh mắt nàng. Hắn gật
đầu. Ừ, có lẽ.
- Vì sao vậy?
- Có em đây mà sao anh vẫn thấy cô độc quá!
Hắn trả lời với nàng như thế.
Giờ thì hắn ngồi đó, trong căn phòng không có nàng, vào một
sáng chủ nhật. Những vệt nắng lan rộng trên khuôn mặt hắn,
vẻ đớn đau đã bão hòa. Chỉ còn một sự tiếc nuối đến tê dại như
đứa trẻ lỡ buông tay và bong bóng đã lên trời.
Hắn chậm chạp với tay bật nhạc. Trí nhớ lơ mơ bảo rằng ngày
hôm qua, cái CD cuối cùng hắn nghe là CD Bản giao hưởng số 9
- Ode to Joy của Beethoven. Nó vẫn đang còn nằm trong máy.
J y
g
g
y
Hắn với tay toan vặn to để âm nhạc có thể tung tẩy khắp căn
phòng, nhưng rồi bàn tay khựng lại, chuyển hướng, cầm lấy cái
headphone bên cạnh. Hắn chụp headphone vào tai, dấy lên
một cảm giác thỏa mãn khi được chạm vào thói quen cũ. Hắn
chỉ nghe nhạc bằng headphone, cho đến khi có thêm nàng.
Nhạc được vặn to lên, vì nó cần được chia sẻ cho cả hai. Nàng
khó chịu khi thấy hắn nghe nhạc một mình, và càng không
thích khi hắn chụp headphone lên tai nàng. Em sợ cái cảm giác
cô độc trong một thế giới âm thanh xa lạ. Nhưng lúc đấy em sẽ
được yên tĩnh tuyệt đối, chỉ có một điều cần phải để tâm thôi,
đó là âm nhạc. Hắn trấn an nàng. Nhưng em sợ không nghe
được tiếng anh. Nàng nói nhỏ, rút dây headphone ra.
Hắn giật mình mở mắt. Ký ức tua lại xoèn xoẹt như đoạn
băng quay nhanh. Bản giao hưởng số 9 đã bay khắp căn phòng
từ lúc nào. Hắn gỡ headphone ra khỏi đầu, trầm ngâm nhìn cái
chấu cắm headphone bọc nhựa màu cam nằm trêu ngươi trên
sàn. Nàng đã rút nó ra, như lôi hắn ra khỏi thế giới ích kỷ biệt
lập của mình, hòa vào một thế giới cởi mở hơn, ít ra là có thêm
nàng.
Người ta nói rằng để hiểu hết thế giới này trong vòng một
giờ, hãy nghe bản giao hưởng số 9 của Beethoven. Nó được xem
như một bản thánh ca về cuộc sống của con người. Chỉ khoảng
một phút của chương một trôi qua, khi Beethoven đang bắt
đầu kể về thoạt kỳ thủy, hắn đã nhận ra mình nhớ nàng. Nhớ
nàng, im lặng, tình cờ trong không gian cô độc nửa vời của
chiếc headphone không cắm.
Hắn bước vào nhà tắm. Khứu giác của hắn chạm phải những
mùi hương. Mùi dầu gội của nàng. Cái mùi thân thuộc này, hắn
đã mê thích biết bao khi được dụi mặt vào tóc nàng. Tóc nàng
mỏng manh, lúc nào cũng hơi âm ẩm. Trên gương, làn hơi
nước tỏa ra khi nàng tắm nước nóng vẫn chưa tan hết, giờ đây
đọng lại trên mặt gương thành những hạt nước lớn to bằng
những hạt ngô. Hắn giật mình, phát hiện trong bồn rửa mặt
vài sợi tóc mỏng manh màu nâu nhạt. Quên hẳn mình vào
phòng tắm để vốc nước lạnh lên mặt, hòng lấy lại sự quân bình,
hắn như sực phát kiến ra điều gì, lao ra phòng ngoài, tìm kiếm.
Giờ thì hắn ngồi bên bàn trong phòng bếp, mắt nhìn đăm
đăm vào cái túi nhựa đựng những sợi tóc của nàng. Như một
cảnh sát ngồi đăm đăm nghiên cứu vật chứng, đôi mắt hắn giờ
đây cùng một niềm khao khát. Khao khát tìm ra sự thật đằng
sau những sợi tóc mong manh kia. Có điều gì làm hắn nhớ
nàng nhiều đến vậy, qua những sợi tóc không lấy gì làm nhiều
biểu cảm? Bản giao hưởng số 9 đã sang giữa chương hai.
Hắn quyết định bỏ túi nhựa đựng những sợi tóc nàng vào
ngăn kéo, đứng dậy tìm chút gì đó ăn. Nếu có nàng, chắc chắn
bữa sáng hôm nay lại là bánh mì ốp la. Không quá vụng về,
nhưng nàng lười cho hắn ăn thứ khác hoặc cùng hắn ra ngoài.
Và hắn thì luôn tỏ ra chẳng có gì để phàn nàn với những buổi
sáng như thế. Có một số cô gái không cho rằng việc nấu những
món ngon cho người yêu là việc làm phản ánh rõ ràng nhất
tình yêu của họ. Cũng đúng. Hắn thích thay vì nàng chúi đầu
cả buổi sáng trong bếp để trêu ngươi cái bao tử đang sôi réo của
mình một cách vụng về, hai người ăn gì đó gọn nhẹ, rồi nằm
trên ghế sô pha và cùng nhau đọc sách. Mỗi người một quyển.
Nàng gối đầu lên ngực hắn, khẽ lấy ngón út khều khều mũi hắn
mỗi khi đọc được một điều gì thú vị và muốn đọc lại cho hắn
cùng nghe. Đôi lúc nàng thả sách xuống, áp đầu vào vai hắn
như một chú mèo con, đôi mắt lơ mơ và khóe môi vẽ một nụ
cười thơ dại… Hắn nhớ lại tất cả những điều đó khi đang chiên
trứng, tự làm buổi sáng cho mình. Và hắn nhận ra chưa bao giờ
nàng vụng về. Hắn không thể làm cho quả trứng chín đều hai
mặt ngoài nhưng lòng đỏ vẫn sông sống và nguyên vẹn như
nàng đã làm được. Cái trứng vỡ choe choét khét lẹt để trơ vơ
trong đĩa. Hắn ăn một miếng và nhận ra mình cay mũi. Có lẽ
mình đổ tiêu quá tay. Chương ba, bản giao hưởng số 9 của
Beethoven. Tiếng violin da diết nhớ.
Hắn quẳng đĩa bẩn vào bồn rửa đã định để đấy, nhưng rồi
cũng tặc lưỡi vặn vòi cho nước tràn ra. Giọt nước rửa chén sánh
vàng chảy xuống. Hắn lấy ngón tay cái quậy quậy để bọt tràn ra
như nàng vẫn hay làm. Bỗng nhiên môi hắn huýt sáo bài Hãy
buộc một dải băng vàng lên cây sồi già. Nàng thường hay hát
bài này mỗi khi rửa bát hoặc ủi áo quần, cái giọng véo von tươi
trẻ như một chú sẻ non nhảy lích rích bên thềm nắng. Và đến
đoạn “do you still want me…” nàng luôn hất đầu lên đầy kiểu
cách. “Cộp”, đầu hắn đập mạnh vào chạn bếp. Hắn rối rít đưa
bàn tay đầy bọt xà phòng lên xoa trán, nghĩ miên man. Chẳng
lẽ mình cao hơn nàng nhiều đến thế?!
Hắn quyết định sẽ ra phố, với ý nghĩ vô vọng rằng nếu mình
tan vào dòng người đông đúc ngoài kia thì bóng hình nàng
cũng sẽ tan biến theo. Nhưng khi hắn mở tủ áo ra thì phát hiện
tất cả đều nhăn nhúm. Theo kịch bản, sáng nay, nếu hắn không
xua đuổi nàng, thì sau khi tắm nàng sẽ ủi áo quần cho hắn.
Hắn chậm chạp cắm bàn ủi và nhận ra mình không biết điều
chỉnh nhiệt độ thế nào cho phù hợp. Hắn không nhớ trước khi
có nàng mình đã như thế nào? Mặc áo quần nhăn mãi chăng?
Chương bốn, bản giao hưởng số 9. Giọng tenor vút lên, tự vấn.
Hắn trải cái áo carô màu vàng lên đệm ủi, loay hoay không
biết phải làm thế nào cho đúng đắn nhất. Đây là chiếc áo nàng
thích nhất, và thường xếp nó vào list áo quần dành cho ngày
chủ nhật. Nàng bảo đấy là màu của bao dung, tha thứ. Ủi cổ áo
trước, rồi đến vạt áo. À không, tay áo trước chứ. Tại sao nó
không thẳng thế này?
Dấy lên trong hắn một nỗi xúc động, khi hắn nhận ra cái
công việc nàng thường làm cho hắn này cần sự tỉ mẩn và chăm
chút biết bao. Nàng đã cẩn trọng ve vuốt từng nếp gấp trên áo.
Và hắn nhớ, mỗi khi ủi xong, treo áo lên mắc, nàng thường đặt
một nụ hôn dịu dàng lên ngực áo, bên trái.
Cái áo, hắn ủi mãi không thẳng.
Chương bốn bản giao hưởng số 9 về cuối, dập dồn, réo gọi,
ngợi ca hạnh phúc. Ode to joy.
Hắn xuất hiện ở cửa nhà nàng với chiếc áo nhàu ở nếp gấp
sau lưng. Nàng ngồi đấy đọc sách, thản nhiên sau điều mà hắn
xem-là-biến-cố, chờ hắn. Cách đây bằng thời gian của Bản giao
hưởng số 9, nàng đã nói với hắn rằng “Để xem, anh không cần
em bao lâu?!”. Và nàng quay đi.
Hắn bước đến cạnh nàng, run run nói:
- Em ạ, đúng bằng thời gian của bản giao hưởng số 9 của
Beethoven.
Nàng vụt ôm lấy hắn, thì thầm, trong giọng nói có chút gì
hoang mang.
- Đồ ngốc kia, thế cũng có nghĩa là đã mất cả một đời rồi còn
gì…
Phía núi bên kia
Làng nằm lọt thỏm giữa những ngọn núi. Bên kia núi là một
làng khác? Một dòng sông? Hay mãi cứ một con đường không
có điểm dừng? Nàng không biết.
Những người đã đi qua núi đều không trở về. Cho đến ngày
anh không trở về nữa, thì nàng tin bên kia núi là địa ngục. Anh
đã hứa rằng chỉ khi phải chết, anh mới xa nàng.
Giữa làng có một cái hồ nước lớn. Người làng sống kín đáo, ẩn
dật đến đáng sợ. Những người từ phương xa đến đổi trà cứ mỗi
ba tháng mới được vào làng một lần. Tất cả họ đều phải long
trọng thề rằng ngoài trà - sản vật trao đổi được với dân làng
bằng những nhu yếu phẩm khác - họ không được mang theo
bất cứ điều gì: những câu chuyện về làng, những điều hơi lạ
lùng mà họ thấy. Họ cũng không được mang đến bất cứ thông
tin nào từ thế giới bên kia núi. Trái lời, sớm muộn gì họ cũng sẽ
bị thần Hồ trừng phạt.
Và quả thật, sau cái chết của một người đổi trà nào đó năm
xưa, không ai dám khinh mạn thần Hồ. Anh ta chết thảm khốc
sau lần dan díu với một cô gái trong làng và định đưa cô trốn đi.
Trên đường dẫn cô gái chạy trốn trong đêm, anh ta ngã xuống
hồ và nhanh chóng bị thần Hồ nhấn chìm trong tuyệt vọng.
Khắp người mang nặng những bao trà vừa đổi trong mấy ngày
trước đó, anh ta không thể nào bơi được. Xác anh ta trôi lênh
đênh giữa hồ ba ngày ba đêm. Những người làng chạnh lòng
thương mang thuyền ra vớt nhưng như có một bàn tay vô hình
ngăn cản, không ai chạm vào anh ta được. Người già trong làng
phải ra hồ cầu khấn hồi lâu, cái xác kia mới cập vào mạn
thuyền.
“Vì sao con muốn ra đi? Tại sao con phải trốn? Chỉ cần con
nói thực là muốn từ bỏ dòng tộc, quê hương, chúng ta sẽ để cho
con đi thôi mà”. Trưởng làng ôn tồn nhìn sâu vào mắt cô gái
đang ngây điếng ôm xác người tình, nói lời khó nhọc. Cô gái bật
khóc, rồi lại rú lên cười man dại. Ít tháng sau, bụng cô dần to
lên. Câu chuyện đó xảy ra cũng đã lâu rồi…
*
* *
Sinh anh xong, mẹ anh trẫm mình xuống hồ. Trưởng làng tự
tay chèo thuyền ra giữa hồ vớt cô lên, đôi mắt đỏ kè như đang
khóc. Cô được chôn cất với những mảnh lụa bạch lấy từ kho lụa
táng của làng quấn quanh người, nghi thức như với bao người
làng khác. Không ai bình luận về nghi thức có phần thiên vị đó,
dành cho đứa con gái hư hỏng từng định bỏ làng mà đi, và giờ
thì tự tử theo người tình, để lại đứa con hoang. Chỉ có điều, cặp
tình nhân không được nằm cạnh nhau. Cô yên nghỉ trong
nghĩa địa làng quanh năm tung bay cờ lụa trắng và ngập tràn
mùi hương nhài. Còn người yêu cô, nằm chơ vơ trong nấm đất
nhỏ bên con đường lớn, nơi anh ta từng vượt qua để đến được
làng này. Con đường ấy dẫn về phía bên kia núi.
Đứa bé trai vừa ra đời được trưởng làng mang về nhà nuôi,
cho bú nhờ con gái ông, lúc này cũng vừa sinh một bé gái. Bé
gái ấy là nàng. Người làng rỉ tai nhau, đó là do lương tâm ông
cắn rứt, vì những lời cuối ông nói với cô gái kia hồ như đã góp
phần dồn đẩy cô tìm cái chết.
*
* *
Những ngày thơ ấu, nàng và anh thường chạy đuổi nhau len
lỏi qua những đồi trà rồi ngã phệt xuống nghỉ bên ngôi mả
hoang ấy. Anh tần ngần nhổ những chân nhang cũ nhạt màu
lên, nhìn thật lâu như muốn rõ điều gì. Lúc ấy, cả hai đứa trẻ
đều chưa biết về người nằm dưới mộ. Nhưng sau này lớn lên,
biết chuyện, nhớ lại ánh mắt anh rưng rưng khi thì thầm trò
chuyện với những chân nhang, nàng hiểu được mối ràng buộc
vô hình của tình máu mủ, dù họ chẳng bao giờ có cơ hội biết về
nhau.
Hai đứa trẻ nằm gối đầu lên mộ, cố đặt tên cho hình thù của
những đám mây trên bầu trời xanh. Chán chê, nàng hỏi anh
con đường này sẽ dẫn tới đâu, bên kia núi có những gì… Anh
trầm ngâm hồi lâu rồi quay sang thì thào: “Ngôi mộ này không
phải của người làng. Bên kia núi chắc phải có một làng nào
đó…”.
Ông ngoại nàng yêu thương anh một cách lạ lùng. Lúc nào
ông cũng cao vời, đường bệ với tư thế oai nghiêm của một
trưởng làng, đôi khi lạnh lùng đến đáng sợ. Nhưng riêng với
anh, ông yêu chiều ra mặt. Anh lớn lên, thông minh đĩnh ngộ.
Hầu những bữa trà sớm hay đêm trăng của ông, không chú tiểu
đồng nào có thể làm ông vừa ý, ngoài anh. Đôi lúc ông cao hứng
đọc thơ cho anh nghe, đôi khi lại bồn chồn tâm sự như với
người tri âm, tri kỷ.
Có lẽ, tất thảy sự ân hận năm nào đã chuyển thành một tình
thương mến. Ông ôn tồn, dịu nhẹ, chẳng mắng anh bao giờ, kể
cả khi anh gây ra tội lỗi tày đình nhất. Lừa khi ông ngủ, anh lén
lấy chơi rồi làm vỡ miếng ngọc quý hộ thân mà lúc nào ông
cũng đeo bên mình. Ông nhìn những mảnh vỡ đầy đau xót, thu
nhặt chúng cho vào một túi lụa nhỏ rồi bỏ đi, không nói tiếng
nào. Cả nhà ngơ ngác nhìn nhau, còn anh thì cởi trần quỳ giữa
sân, run bần bật, nhưng một trận roi nát da nát thịt đã không
xảy ra.
Tuổi thơ anh trôi qua yên bình, anh chẳng hề thắc mắc vì sao
mình không có cha, yên lòng với câu chuyện thô vụng mà
người làng bịa ra dưới lệnh của ông. Ai đó đem trồng cạnh mộ
mẹ anh một cây nguyệt quế. Ít lâu sau nó ra hoa rải trắng một
vùng. Trên thảm hoa đó, không ít lần nàng thấy anh cô đơn
nằm khóc, trong nỗi đau vô thức về thân phận mình. Nàng
nhặt những đóa hoa tinh khôi kia cho vào túi lụa nhỏ đặt trên
đầu giường anh. Đến lần thứ bao nhiêu đó thì anh bắt được. Ấy
là lần đầu tiên anh hôn nàng. Năm đó, cả hai đều vừa mười sáu
tuổi.
*
* *
Lần đầu tiên ông ngoại nàng trừng phạt anh là khi ông bắt
gặp họ hôn nhau ở bụi nguyệt quế ấy. Ông sững sờ đánh rơi
những hoa ¬huệ trắng đang cầm trên tay, xềnh xệch lôi anh ra
hồ. Ở đó, ông nhấn nước anh thừa sống thiếu chết, cùng với
những cái tát túi bụi vào mặt. Phải đến khi gần như cả làng kéo
ra can ngăn, ông mới buông anh, đã tơi tả như một miếng giẻ
rách nát te tua ra, ném vào anh cái nhìn phẫn nộ rồi phừng
phừng bỏ đi.
Họ bị cách ly gắt gao, nhưng không bao giờ chịu đầu hàng.
Trong mắt làng tộc, hai đứa cháu đáng yêu bỗng trở nên lì lợm,
bất trị. Không được đến gần nhau, nhưng ánh mắt đắm đuối
chúng dành cho nhau như thách thức mọi lời cấm đoán. Không
biết bao đêm mẹ nàng đã khóc lóc, chỉ thiếu điều van xin con
gái. Tình yêu ấy quá tội lỗi. Con và nó đã lớn lên cùng nhau, bú
chung bầu sữa, có chung một gia đình. Làm sao con có thể yêu
chính anh trai mình?!
Lần thứ hai, ông bắt gặp anh ôm nàng giữa gian phòng thơm
ngát những khay trà vừa sấy. Ông tuốt cây kiếm treo bên tủ thờ
kề ngay cổ anh, mắt vằn lên những tia máu: “Tao nhắc lại lần
nữa, tránh xa nhau ra, nếu không tao giết hết!”. Ông bất chợt
vung kiếm, chém bay một bím tóc của nàng, run giọng: “Mày…
mày nghĩ mày có thể quyết định cuộc đời mày sao? Với thằng
con hoang này?!!”. Bóng kiếm sắc lạnh soi rõ niềm đau đớn
trong mắt anh. Nàng không sợ chết. Nhưng nàng hốt hoảng
nhận ra vòng tay ôm của anh đã dần lơi đi.
Ít lâu sau đó, anh bỏ đi khỏi làng. Anh trốn theo đoàn người
đổi trà, men theo con đường qua ngôi mả cũ dẫn đến phía bên
kia núi. Nơi đó, anh tin có một ngôi làng khác…
Đọc bức thư anh để lại, trưởng làng ngồi ôm đầu ở bậc cửa,
không nói một lời. Rồi ông đứng dậy, rút cây kiếm sắc đâm một
nhát thật lực vào bục gỗ gần tấm phản, chỗ anh hay quỳ để hầu
trà… Nhiều năm sau, cây kiếm vẫn còn cắm nguyên ở đó.
Còn nàng, tự giam mình trong nhiều ngày, khóc đến kiệt sức.
Không khí trong gia đình nặng như đá. Người làng có chuyện
để xầm xì.
Khi nỗi đau kia tưởng đã dần nguôi, tóc nàng đã dài trở lại,
thương nhớ trong nàng dường đã chai đá thì anh đột ngột trở
về. Đứng lẫn trong toán người đổi trà đang long trọng tuyên
thệ trước thần Hồ, không ai nhận ra anh. Nhưng nàng, dù bộ
râu quai nón kia xa lạ đến mức nào, dù nước da anh đã xạm đen
đến đâu, dù anh đã cao lớn rắn rỏi ra sao, nàng làm sao quên
nổi đôi mắt u buồn kia. Đôi mắt đã ám ảnh trái tim nàng từ hồi
thơ dại. Nàng đánh rơi nong trà. Anh giật mình quay đi, khuất
sau những dải lụa màu chấp chới.
Nàng len lén nấp sau những dải cờ lụa trắng ngoài nghĩa
trang, lặng lẽ khóc khi thấy dáng anh quen thuộc bên cây
nguyệt quế cạnh mộ mẹ. Rồi không thể nào chịu nổi, nàng
vùng chạy đến ôm chầm lấy anh. Tấm lưng anh giờ đã rộng, đã
vững chãi lắm rồi. Nàng nghe thấy mùi mồ hôi ấm áp, quen
thuộc lẫn với mùi gió, mùi núi sông sau lần vải áo thô kệch.
Anh lập cập quay lại ôm chặt nàng, mắt đẫm nước. Chiếc cằm
đầy râu mấp máy, run run không nói nên lời. Nàng chùi nước
mắt vào ngực anh, nói câu đầu tiên sau bốn năm chia cách.
- Đưa em đi!
- Đi đâu? - anh thảng thốt.
- Sang bên kia núi.
Đêm hôm đó, trong trí nhớ của ông, trời tối đen giống hệt
năm nào chàng trai đổi trà định dẫn cô gái làng bỏ trốn. Ông
đứng đợi bên hồ, tay cầm cây kiếm đã từng kề cổ anh, đã thô
bạo cắt đứt bím tóc nàng và cô đơn cắm trên bệ gỗ với những
nỗi niềm suốt từng ấy năm anh lưu lạc. Nó tưởng ông không
nhận ra nó sao? Dáng người ấy, đôi mắt ấy, cung cách cam chịu
ấy… Nó đã lớn lên trong tầm mắt ông, từng ngày, và trong cả
trái tim ông nữa.
Đôi trai gái dắt díu nhau đi trong bóng tối. Họ lạc ra phía hồ.
Anh nắm tay nàng rất chặt, và nàng biết anh đang vã mồ hôi vì
sợ. Luật làng từ thời ông trưởng làng đầu tiên, là ông cố nàng
đề ra, từ bé anh đã thuộc lòng. Lời thề với thần Hồ và cái chết
truyền kỳ của anh chàng đổi trà năm xưa ám ảnh tâm trí anh.
Anh chỉ định trở về để nhìn thấy nàng một lần. Vả lại, ngày đi
anh chưa kịp ra mộ mẹ…
- Đứng lại! - giọng ông khản đặc. Ánh kiếm lóe lên như vệt
trăng mờ xám lạnh.
Hai đứa quỳ sụp xuống. Nàng khóc òa:
- Ông để bọn con đi.
Ông thẫn thờ ném cây kiếm xuống đất khi nghe tiếng khóc
của đứa cháu gái xinh đẹp. Nó đang van xin ông hãy cho nó
được hạnh phúc. Ông quỳ phệt xuống trước hai đứa. Mơ hồ,
ông nghe tiếng hai đứa ngày nào thơ bé, ca hát rộn ràng. Âm
thanh nao nức, vui tươi như vọng về từ ngày tháng xa xưa…
Xen vào đó là hình ảnh chập chờn, kinh hãi của một quãng đời
ông không bao giờ ông muốn nhớ…
*
* *
Năm ấy, cha ông hận người vợ bội bạc nên dắt ông - lúc đó
mới ba tuổi - bỏ đi. Cùng một số dân nghèo không có đất, ông
vượt núi đến vùng này lập làng. Cha ông trở thành trưởng
làng, đề ra bao quy ước quái lạ, vin vào lời nguyền của thần Hồ.
Ai muốn bỏ vùng này ra đi phải tuyên hứa giũ bỏ quê hương,
máu mủ và dứt khoát không được trở về.
Không ngờ, chính ông - con trai trưởng làng - lại là người đầu
tiên rời bỏ đất. Ông say sưa với thế giới rộng lớn bên ngoài, yêu
và được yêu, nhưng rồi đến phiên ông cũng bị người đàn bà ấy
phụ bạc. Ẵm đứa con gái khóc ngằn ngặt vì khát sữa, ông chẳng
biết đi đâu. Rồi cuối cùng ông quyết trở về làng. Cha ông
thương đứa con trai nông nổi, đã dựng nên một câu chuyện để
có thể đón ông trở về. Không lâu sau đó, cha cưới cho ông một
cô gái làng nhu mì, hiếu thuận. Còn đứa bé gái được gửi cho
một bà góa nuôi, giấu biệt tung tích.
Ông chỉ có thể đứng xa nhìn nó từ lúc lẫm chẫm theo bà góa
đi hái trà cho đến khi biết nhảy chân sáo và chơi trốn tìm giữa
những đồi trà xanh biếc. Ông đau đớn tột cùng khi nhận ra,
càng ngày nó càng xinh đẹp giống hệt người mẹ bội bạc của
mình. Chưa bao giờ ông được ở gần con gái như cái ngày chèo
thuyền ra giữa hồ để bế bồng thi thể nó lên.
Lúc ông chạm vào thi thể cóng lạnh ấy, khóe miệng nó ứa đầy
máu tươi. Ông đã lén chùi sạch vết máu ấy trước khi đưa nó lên
bờ, tránh ánh mắt dò xét của người làng. Con gái ông, đứa con
gái không được thừa nhận, rồi cũng đến phiên nó muốn theo
người lạ rời làng, mà không biết đằng sau ngọn núi kia là bao
gian dối…
Anh buông tay nàng ra. Đêm đó, cả ba linh hồn đều gục chết
sau lời sám hối của ông và những bí mật kinh khủng được tiết
lộ.
*
* *
Chàng buôn lụa có đôi mắt buồn rời làng một mình vào lúc
rạng đông. Ngang ngôi mả hoang bên đường dẫn qua núi, anh
quỳ xuống, rút mấy chân nhang cũ, dập đầu lặng lẽ khóc. Rồi,
anh đứng lên đi tiếp chặng đường qua phía núi bên kia.
Không ai thấy cảnh ấy. Làng đang có đại tang. Sáng hôm đó
người ta thấy thi thể vị trưởng làng nổi lềnh bềnh trên hồ.
Thần Hồ lại lấy đi một mạng người.
Cô cháu gái xinh đẹp của ông ngồi câm nín bên bờ hồ, tóc
đẫm sương đêm. Không ai đọc được trong đôi mắt ngây dại của
nàng hằn in chỉ một khoảnh khắc: anh vụt đứng dậy chạy điên
cuồng trong bóng đêm, và nàng không còn thấy gì nữa.
Chỉ còn lại nàng và ông. Ông cúi xuống vỗ về nàng, nói khẽ
lời hối lỗi ngàn lần rồi từ từ bước về phía hồ thăm thẳm kia, với
một vẻ cương quyết và thanh thản lạ lùng mà nàng biết.
Không phép lạ nào trên đời này có thể níu giữ bước chân ông
lại…
Xuất hiện và biến mất
Lớp mười. Tôi được xếp ngồi cạnh một tên con trai có đôi
lông mày rậm như hai con sâu róm vắt ngang qua khuôn mặt,
mắt lúc nào cũng ướt rượt, lông mi thì dài và cong, đẹp một vẻ
nữ tính đến độ làm mủi lòng mấy đứa con gái. “Thôi rồi, một
thằng nhóc đa tình nữa đây!”. Tôi cố nín cười khi nhìn thấy cậu
ta lần đầu tiên, nghĩ thầm trong bụng. Đúng như dự đoán,
Thuyên - tên cậu ấy - nhút nhát đến lạ lùng. Nghe đâu cậu ấy
mới từ xa chuyển về. Ngồi cạnh nhau gần hai tuần, cậu mới bắt
chuyện với tôi câu đầu tiên. Hình như lần đó cậu ấy mượn cục
tẩy.
Đó quả thật là một kẻ quái đản. Luôn cầm một cây bút chì,
cậu ta thường hay ngồi phác thảo lung tung trong những giờ
làm bài tập. Có đôi ba bận tôi liếc sang, không giấu được vẻ tò
mò, thì thào hỏi “Cậu vẽ cái gì đấy!” Thuyên dịch tay cho tôi
xem những đường nét hoa văn và hình thù lạ lùng trên giấy
“Vẽ những suy nghĩ!” “Thế à?!”. Tôi lại thì thào, rồi quay lên.
Câu trả lời của Thuyên ám ảnh tôi suốt buổi.
Cậu ấy gọt bút chì bằng con dao rọc giấy màu vàng hay để
trong hộc bàn. Tôi nhìn, dâng lên một cảm giác phấn khích lạ
lùng. Những mảng gỗ bay ra, để lại những đường dao đi ngọt
sắc. Đầu bút chì nhọn hoắt, cạnh gồ ghề vững chãi, bốc lên mùi
gỗ thơm thơm, khác xa cái kiểu gọt bằng đồ gọt lúc nào cũng
mịn màng trơn láng nhưng dễ cùn. Từ đó tôi hay giành gọt bút
giúp. Những giờ ra chơi, tôi lôi bốn cây bút chì của Thuyên ra
gọt chuốt tỉ mẩn cho đến khi chúng nhọn hoắt lên, cả bốn. Có
đứa nào đó trong lớp trêu “Ê, cậu định bắt chước Tốttôchan đấy
hử?!” (Tốttôchan - cô bé bên cửa sổ hay gọt bút giùm cho
Taichan là cậu bạn mà cô bé rất mến). Tôi cũng chẳng quan tâm
gì mấy. Miễn được gọt bút! Quả là một sự thỏa mãn kì dị! Cậu ta
nhìn những cây bút chì nhọn đầu, nở một nụ cười, tiếng cảm
ơn nhẹ đến nỗi tan vèo trong cơn gió vừa ùa qua cửa lớp.
Nhưng cái cách cầm bút khiến tôi biết cậu ta trân trọng thành
quả của mình đến mức nào. Tôi lại ngồi, chăm chú quan sát, lại
đợi cậu ta thả ra một cây bút chì cùn để hí húi gọt.
Tôi lây thói quen của Thuyên, cũng hay viết vẽ linh tinh.
Trong túi lúc nào cũng thủ sẵn một cây bút lông để viết lên đĩa
CD, hễ đặt bút xuống là không tẩy xóa được. Thậm chí bìa vở
Thuyên bao giấy màu đen, tôi cũng lấy viết xóa viết lên. Cậu ta
để yên cho tôi viết, thậm chí còn ngồi cặm cụi thổi khô nét bút
rồi bao bìa nilon lại. Một hôm Thuyên lên bảng môn toán,
không làm được bài - cậu ta rất yếu tự nhiên - thầy giáo nhìn
lướt qua cuốn tập của Thuyên, mỉa mai “Sao, cậu còn viết thư
pháp lên vở Toán cơ à?!” Hai chữ “thư pháp” nhấn mạnh, tôi
ngồi run, tai Thuyên trở màu đỏ bừng. Đến khi cậu ta lủi thủi
ôm vở về, tôi cúp mắt ăn năn, Thuyên vẫn nói nhỏ trấn an “Chả
sao đâu!”.
Có lần Thuyên quay sang tôi:
- Cho tớ mượn Angel of Hell!
- Angel of Hell? - Tôi trố mắt lên nhìn cậu ấy.
- Ừ! - Thuyên vẫn thản nhiên.
- Đó là cái gì cơ?
- Cái này này. - Thuyên mở hộp bút tôi ra, lấy cái compa. Trên
đó, tôi viết chữ Angel of Hell ngoằn ngoèo hoa lá cành.
Từ đó, có một quy ước nho nhỏ. Khi cậu ta muốn mượn bút
highlight, sẽ hỏi “Boulevard of broken hearts”, tẩy là “Black
wings”, bút bi là “Northern Sim”… Chẳng ai hiểu chúng tôi nói
gì.
Bí thư yêu cầu thầy giáo tách tôi và Thuyên ra. Các thầy cô
giáo bộ môn tự nhiên dạo này hay phàn nàn về “hai đứa ngồi
cạnh nhau ở gần cửa sổ, mắt cứ ngó đăm đăm lên bảng nhưng
tâm hồn thì treo ở đâu đâu. Có lúc đi ngang, thấy trong tập
nháp của bọn nó chỉ toàn vẽ vời thơ thẩn”. Thầy giáo gọi riêng
tôi lên, lẩn quẩn hỏi han hồi lâu rồi mới nói “Em và Thuyên ít
khi tập trung?”. Tôi lúng búng lời xin lỗi, thầy gật đầu cười
“Thầy hiểu, mới lớn, có những thay đổi trong tâm tưởng. Lúc
nào cũng cảm thấy ý tưởng tuôn trào, quá thiếu thời gian để
thể hiện, đúng không? Nhưng bây giờ, còn có những chuyện
quan trọng không kém…” “Em hiểu ạ!”, “Ừ, hai đứa cứ ngồi
nguyên chỗ đó. Em chuyển đến Thuyên lời thầy!”. Tôi nhìn thấy
đầy biết ơn. Thuyên nghe tôi, xếp tất cả giấy vẽ, bút chì mang
về nhà cất. Nhưng có vẻ cậu ta chẳng tập trung hơn là mấy. Nụ
cười con nít lâu lâu lại thoáng hiện trên môi. Tôi cau mày ngạc
nhiên, cậu ta thì thầm “Tôi đang sắp xếp lại những ý tưởng.
Tuyệt lắm, bạn biết không?!”.
Một ngày tháng mười một. Những con đường trong thành
phố đậm đặc mùi hoa sữa. Gió lạnh và hanh xốc buốt vào mặt.
Thuyên lẳng lặng đạp xe đi cạnh tôi.
- Tôi chẳng thể nào hiểu nổi! Tại sao lúc nào cậu cũng mải mê
suy nghĩ? Cậu nghĩ về cái gì hay lắm sao?
- Ừ, rất hay! Tôi nghĩ về những con đường tuyết. Cậu biết
không, nếu đặt vào đó những cái ô màu cam… Rồi những đứa
trẻ đang chơi đùa, khung cảnh một màu trắng đen xưa cũ,
riêng những quả bong bóng là rực rỡ màu sắc.
Và một cô gái áo mỏng đi trong sương khói, chỉ có đôi môi cô
ấy là điều thực…
Tôi ngẩn ngơ nhìn Thuyên. Lại nụ cười ấy. Mỗi khi hài lòng
với một ý tưởng, cậu ta cười thơ trẻ. Đôi khi tôi không nghĩ
Thuyên thuộc về thế giới này. Tôi không căn vặn cậu ta nữa.
- Giá mùa đông ở đây có tuyết nhỉ?! Tôi nói bâng quơ.
- Ừ. Tuyết đẹp!
- Cậu đã thấy tuyết?! - Tôi nhìn sang Thuyên.
- Ừ. - Cậu ấy gật đầu. - Đẹp tuyệt!
Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên, Thuyên giải thích.
- Tôi từng sống ở Nga, một thời gian ngắn thôi nhưng cũng đủ
để trải qua mùa đông. Năm rồi thì tôi ở Sapa. Tuyết Sapa đỏng
đảnh lắm! Chưa kịp hái xuống đã tan trong lòng tay rồi…
…
- Ba tôi là nhiếp ảnh gia, phóng viên ảnh của một tạp chí du
lịch. Ly hôn xong, ông ấy đưa tôi đi nhiều… - Thuyên liếm
môi, nói khẽ.
Thuyên rủ tôi về nhà chơi, lần đầu tiên. Tôi không gặp ông
bố, nghe nói ông đã đi vào buôn chụp ảnh. Căn nhà rộng lớn
thâm u nằm ở ngoài rìa thành phố như một gallery nhỏ, treo
tác phẩm của nhiếp ảnh gia đó. Tôi dừng lại trên hành lang
ngẩn ra ngắm. Trong phòng khách đồng thời là phòng làm việc
chất đầy những thùng đạn đựng phim âm bản. Thuyên chỉ bức
hình một người đàn ông trạc năm mươi lãng tử, sương gió, đội
mũ cao bồi, có hàm râu quai nón đen rậm. Ông ta đang ngậm
tẩu, đứng trên một đồng cỏ bao la, phía sau là những mảnh trời
trong veo, xanh biếc “Ba tôi đấy!”. Có một cảm giác chung:
những bức ảnh của ông chụp toát lên một vẻ hoành tráng lạ
lùng, từ chính chủ thể. Thác nước, dòng sông, sóng dữ… Chiều
cao, độ sâu, tầm xa thể hiện rõ ràng dứt khoát. Kết hợp với chân
dung này, tôi dường định hình rõ được cá tính con người này
dù chưa gặp lần nào. “Ông quyết định cùng tôi ở lại đây ba
năm, như cậu thấy đấy! Sau khi tôi vào đại học, có thể tự xoay
xỏa một mình, ông ấy sẽ tiếp tục ra đi. Tây Tạng, ông mơ ước
đến đó lâu rồi…”. Rồi cậu ấy chỉ bức chân dung khác “Còn đây là
mẹ tôi”. Tôi tròn mắt ngạc nhiên. Đó là một phụ nữ trẻ măng,
xinh đẹp đang khẽ chạm vào một đóa tường vi, đôi mắt mơ
màng u uẩn giống hệt như Thuyên. “Trẻ quá hả?”. Cậu ấy nói
nhỏ. “Một nghệ sĩ violin! Giờ đang sống ở Mĩ, với chồng sau”.
Quả thật, tôi biết Thuyên đặc biệt. Nhưng tôi chưa bao giờ
tưởng tượng cậu ấy có xuất thân đặc biệt đến như vậy!
Chúng tôi ngồi ở bàn ăn cạnh cửa sổ. Cậu ấy kiểu cách rót hai
cốc nước cam, lôi bánh ngọt, bánh mặn và đồ ăn khô chất đầy
mặt bàn.
- Vậy ai nấu cơm? - Tôi hỏi.
- Tôi chứ ai. Ba chỉ về nhà buổi tối. Nhưng mà ông ấy không
thích nhìn thấy tôi đang nấu nướng gì đó. Buồn cười ha! Thuyên giải thích.
- Ừ, vì cậu là con trai.
- Ừ, ba tôi cũng hay đưa ra lý do đó khi cấm tôi trồng hoa, chơi
đàn, thậm chí bẻ bai cả chuyện tôi thích chụp ảnh macro hoa
dại, viên đá, hạt sương… ông bảo tôi là con trai nhưng ẻo lả,
đa cảm giống như mẹ. Điều đó không tốt!
- Cậu đâu có ẻo lả! - Tôi chống chế yếu ớt. - Chỉ vì cậu quá lãng
mạn và giàu trí tưởng tượng.
- Thực ra thì trong cách nuôi dạy tôi họ đã mâu thuẫn nhau
rồi… - Thuyên thoáng buồn rồi vỗ vỗ đầu. - Mà thôi, cậu có
muốn xem những vạt rêu không?
Thuyên dẫn tôi ra sau nhà. Bên cạnh vài món đồ gỗ gãy
chỏng chơ là những khuôn đất rộng và cạn hình chữ nhật đóng
bằng gỗ tạp phủ đầy rêu.
- Thú vị không? Rồi tôi sẽ làm một căn nhà gỗ be bé, lợp những
tấm rêu này làm mái. Căn nhà sơn màu trắng…
Chưa bao giờ tôi thấy Thuyên nói chuyện hào hứng say mê
như hôm ấy. Những câu chuyện về màu sắc, hình ảnh, sự vật, ý
tưởng triền miên không bao giờ dứt. Sau ba năm ngồi cạnh
Thuyên, cánh cửa dẫn vào thế giới bí ẩn tâm hồn cậu bạn
dường như chỉ vừa hé mở…
Những kì thi cuốn chúng tôi đi. Không đứa nào có thời gian
kể về những ước mơ nữa. Qua kì thi học kì, đứa nào cũng trở
nên phờ phạc.
Một tuần trước thi tốt nghiệp, Thuyên rủ tôi lên khu nghĩa
trang. Đó là nơi cao nhất, có thể nhìn xuống toàn thành phố.
Hai đứa ngồi ở bệ đá dọc khu tưởng niệm.
- Như Anh, có lẽ sau đợt thi này, còn lâu lắm tôi mới có thể gặp
lại cậu.
- Cậu nói gì vậy? Cậu đã dự định thi cùng trường với tôi mà. Dù
muốn hay không cũng phải gặp nhau thôi! - Tôi nháy mắt
cười.
Thuyên ngẩng lên, đôi mắt không còn mơ màng.
- Tôi không thi đại học.
… Tôi sửng sốt nhìn Thuyên.
- Tôi sẽ đi cùng ba tôi sau khi tốt nghiệp. Đó mới là ước mơ của
tôi đấy Như Anh ạ! - Cậu ta nhìn...
 





