Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Ong Gia Va Bien Ca - Ernest Hemingway (1)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:23' 07-03-2024
Dung lượng: 471.6 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:23' 07-03-2024
Dung lượng: 471.6 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
Ernest Hemingway
Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com
Giới Thiệu
Cùng với William Faulkner, Hemingway được xem là người
khai sinh ra nền văn xuôi hiện đại Mỹ. Tầm ảnh hưởng của
ông càng về cuối thế kỉ càng rõ nét. G.G. Marquez gọi ông là
thầy và nhiều nhà văn Mỹ đương đại suy tôn ông làm người
khai sinh ra trường phái Chủ nghĩa cực hạn (Minimalism).
Ông già và Biển cả (tên tiếng Anh: The Old Man and the Sea)
là một tiểu thuyết ngắn được Ernest Hemingway viết ở Cu ba
năm 1951 và xuất bản năm 1952. Nó là truyện ngắn dạng viễn
tưởng cuối cùng được viết và xuất bản khi ông còn sống. Đây
cũng là tác phẩm nổi tiếng và là một trong những đỉnh cao
trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Trong tác phẩm này ông
đã triệt để dùng nguyên lý “tảng băng trôi”, chỉ mô tả một
phần nổi còn lại bảy phần chìm, khi tái hiện cuộc chiến đấu
không cân sức giữa đàn cá hung dữ với ông già. Tác phẩm ca
ngợi con người, sức lao động và khát vọng của con người.
Nhân vật trung tâm của các phẩm là một “ông già” người Cu
ba, người đã cố gắng chiến đấu trong ba ngày đêm vật lộn với
một con cá kiếm khổng lồ trên biển vùng Giếng Lớn khi ông
câu được nó. Sang đến ngày thứ ba, ông dùng lao đâm chết
được con cá, buộc nó vào mạn thuyền và lôi về nhưng đàn cá
mập đánh hơi thấy đã lăn xả tới, ông lại đem hết sức tàn chống
chọi với lũ cá mập, phóng lao, thậm chí cả mái chèo để đánh.
Ông giết được nhiều con, đuổi được chúng đi, nhưng cuối
cùng khi nhìn đến con cá kiếm của mình thì nó đã bị rỉa hết
thịt chỉ còn trơ lại một bộ xương khổng lồ. Tác phẩm là khúc
hát ca ngợi con người, sức lao động và khát vọng của con
người.
Mời các bạn đón đọc!
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
Ernest Hemingway
Mục Lục
Giới Thiệu
Mục Lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
Ernest Hemingway
www.dtv-ebook.com
Chương 1
Lão đã già, một mình một thuyền câu cá trên dòng Nhiệt
lưu và đã tám mươi tư ngày qua lão không bắt được lấy một
mống cá nào. Bốn mươi ngày đầu thằng bé đi với lão. Nhưng
sau bốn mươi ngày không câu được cá, cha mẹ thằng bé bảo
nó rằng rốt cuộc bây giờ ông lão đã hoàn toàn salao, cách diễn
đạt tệ nhất của vận rủi, rồi buộc nó đi theo thuyền khác và
ngay trong tuần lễ đầu tiên chiếc thuyền ấy đã câu được ba con
cá lớn. Điều đó khiến thằng bé buồn khi hằng ngày thấy ông
lão trở về với chiếc thuyền không, nó luôn xuống giúp lão
mang khi thì cuộn dây, cái lao móc săn cá, khi thì cái sào hay
tấm buồm quấn quanh cột. Tấm buồm được vá bằng bao bột,
cuộn lại trông như một lá cờ bại trận triền miên. ông lão gầy
gò, giơ cả xương, gáy hằn sâu nhiều nếp nhăn. Những vệt nám
vô hại trên làn da má của lão do bị ung thư bởi ánh mặt trời
phản hồi trên mặt biển nhiệt đới. Những vệt ấy kéo dài xuống
cả hai bên má, tay lão hằn những vết sẹo sâu bởi kéo những
con cá lớn. Nhưng chẳng có vết nào trong số sẹo ấy còn mới
cả. Chúng cũ kỹ như mấy vệt xói mòn trên sa mạc không cá.
Mọi thứ trên cơ thể lão đều toát lên vẻ già nua, trừ đôi mắt;
chúng có cùng màu với nước biển, vui vẻ và không hề thất bại.
L “ông Santiago, thằng bé nói khi hai người leo lên bờ nơi
con thuyền được kéo lên.
“Cháu có thể lại đi cùng ông. Chúng ta đã có ít tiền rồi.
ông lão dạy thằng bé câu cá và nó quý lão.
“Đừng”, lão nói.
“Cháu đang đi với con thuyền may mắn. Hãy ở lại với họ”.
“Nhưng ông còn nhớ có hồi suốt tám mươi bảy ngày ta
không bắt được cá nhưng sau đó trong ba tuần lễ ngày nào ta
cũng vớ được cá lớn”.
“ông nhớ”, ông lão nói.
“ông biết cháu đã không rời bỏ ông vì thiếu lòng tin”.
“Tại cha cháu bắt làm như thế. Cháu còn nhỏ, cháu phải
nghe lời cha”.
“ông hiểu”, ông lão nói.
“Đấy là chuyện thường”.
“Cha cháu chẳng tin đâu”.
“Phải”, ông lão nói.
“Nhưng chúng ta tin, đúng không… ”
“Vâng”, thằng bé đáp.
“Cháu có thể mời ông một lá bia ở khách sạn Terrace trước
khi chúng ta mang mấy thứ này về nhà chứ… ”
“Tại sao lại không… ”, ông lão nói.
“Dân chài với nhau cả mà”. Họ ngồi ở Terrace và rất nhiều
người đánh cá trêu ông lão nhưng lão không giận. Một số
khác, những ngư dân lớn tuổi hơn, nhìn lão và cảm thấy buồn.
Nhưng họ không để lộ ra mà chỉ từ tốn nói về dòng chảy, độ
sâu buông câu, về thời tiết tốt, ổn định và về những thứ họ đã
nhìn thấy. Mấy tay đánh cá thành công của ngày ấy đã trở về,
xả thịt con cá kiếm của họ, sắp đầy lên hai tấm ván, mỗi người
khiêng một đầu đi xuyên đến nhà để cá, đợi chiếc xe tải ướp
lạnh đưa đến chợ Havana. Những người bắt được cá mập thì
đưa chúng đến xưởng cá mập phía bên kia vịnh; chúng được
móc treo lên bằng ròng rọc, gan bị mổ lấy, vi bị cắt, da bị lột
và thịt thì được xẻ thành súc đưa ướp muối. Khi gió Đông
thổi, mùi tanh nồng từ xưởng cá mập bên kia cảng phả đến.
Nhưng hôm nay, mùi cá chỉ thoang thoảng vì gió thổi chếch
sang hướng Bắc rồi lặng hẳn; trên Terrace trời tỏa nắng dễ
chịu.
“ông Santiago”, thằng bé gọi.
“ừ”, ông lão đáp. Lão đang giữ cái lá và hồi tưởng về nhiều
năm trước.
“Cháu đi kiếm giúp ông mấy con cá mòi cho ngày mai
nhé… ”
“Đừng. Đi chơi bóng chày đi. ông vẫn có thể chèo và
Rogelio sẽ quăng lưới”. ” Cháu thích đi.
Nếu cháu không được câu cá với ông thì cháu muốn giúp
ông việc gì đó”.
“Cháu đã mua bia cho ông”, ông lão nói.
“Cháu thực sự là đàn ông rồi”.
“Lần đầu tiên ông đưa cháu ra khơi, cháu lên mấy… ”
“Lên năm, và suýt nữa cháu bị chết khi ông lôi con cá quá
lớn lên thuyền, nó gần như quật tan con thuyền ra nhiều mảnh.
Cháu có còn nhớ không… ”
“Cháu vẫn nhớ cái đuôi quật mạnh; chỗ ngồi chèo thuyền
bị gãy và tiếng nện của cái chày. Cháu nhớ ông ném cháu ra
đằng mũi thuyền, nơi lùng nhùng những sợi dây ướt rồi cháu
cảm thấy toàn bộ con thuyền chao đảo và tiếng ông quật con
cá nghe như thể đang đốn cây, máu nóng hổi bắn cả lên người
cháu”.
“Có phải cháu thực sự nhớ chuyện ấy hay là do ông kể… ”
“Cháu nhớ mọi thứ kể từ cái lần đầu tiên ông cháu ta đi
cùng nhau”. ông lão nhìn thằng bé bằng ánh mắt chan chứa
tình thương, tin cậy, ấm áp của mình.
“Nếu cháu là con ta thì ta sẽ đưa cháu đi cầu may một
phen”, lão nói.
“Nhưng cháu là con của cha mẹ cháu và cháu đang đi trên
con thuyền may mắn”.
“Cháu có thể đi kiếm cá mòi chứ… Cháu còn biết nơi cháu
có thể kiếm được bốn con mồi”.
“Hôm nay ông vẫn còn mấy con. ông đã muối chúng trong
thùng”.
“Để cháu đi kiếm bốn con tươi”.
“Một thôi”, ông lão nói. Niềm hy vọng và lòng tin của ông
lão chưa bao giờ nguội lạnh. Còn bây giờ thì chúng đang cuộn
lên như khi gió đang nổi.
“Hai”, thằng bé nói.
“Hai”, ông lão đồng ý.
“Cháu không ăn cắp đấy chứ… ”
“Cháu không”, thằng bé đáp.
“Cháu mua”.
“Cảm ơn cháu”, ông lão nói. Lão quá giản dị để không tự
hỏi tính nhún nhường của mình có tự bao giờ. Nhưng lão biết
lão đã có nó và lão biết nó chẳng có gì xấu hổ và cũng chẳng
mảy may phương hại đến niềm kiêu hãnh thực sự.
“Với con nước này, mai sẽ là một ngày tốt lành”, lão nói.
“ông sẽ đến đâu”, thằng bé hỏi.
“Đi thật xa, khi gió trở thì mới quay về. ông muốn đến đấy
trước khi trời sáng”.
“Cháu sẽ tìm cách để ông ấy ra câu xa”, thằng bé nói.
“Rồi khi ông câu được một con gì đấy thật sự lớn, cháu sẽ
có thể đến giúp”.
“ông ấy không thích ra khơi xa đâu”.
“Vâng”, thằng bé nói.
“Nhưng cháu sẽ thấy cái gì đó, một con chim săn mồi
chẳng hạn, mà ông ấy không thể thấy rồi giục ông ta bám theo
bầy cá dorado”.
“Mắt ông ấy kém đến thế ư… ”.
“ông ấy gần như mù”.
“Lạ thật”, ông lão nói.
“ông ấy chưa bao giờ đi săn rùa. Đấy là lý do làm mắt kém
thị lực”.
“Nhưng ông đã nhiều năm đi săn rùa tận Moạquito Coaạt
mà mắt ông vẫn còn tốt”.
“Ta là một lão già kỳ lạ”.
“Nhưng giờ đây ông có còn đủ sức để dành cho con cá thật
lớn không… ”
“ông chắc thế. Vả lại còn có nhiều mẹo nữa”.
“Chúng ta hãy mang dụng cụ về nhà”, thằng bé nói.
“Rồi cháu có thể mang lưới - quăng đi bắt cá mòi”. Họ tháo
vật dụng khỏi thuyền. ông lão vác cột buồm, thằng bé mang
thùng gỗ đựng dây, những sợi dây câu màu nâu được bện thật
chắc, cái móc, ngọn lao với cán của nó. Thùng đựng mồi để ở
đuôi thuyền, bên cạnh cái chày được dùng để quật những con
cá lớn khi bị kéo lên khoang.
Chẳng ai ăn trộm đồ đạc của ông lão, nhưng tốt hơn thì cứ
đưa cánh buồm, cuộn dây nặng vào nhà bởi sương có thể làm
chúng hỏng và dẫu cho lão có hoàn toàn tin chắc là chẳng có
người địa phương nào ăn cắp của lão thì lão vẫn nghĩ cái móc
và ngọn lao hẳn có sức cám dỗ khi để trên thuyền. Họ cùng đi
bộ trên con đường đến lều ông lão rồi bước vào qua cánh cửa
để ngỏ. ông lão dựng cột buồm với lá buồm quấn quanh vào
vách, thằng bé đặt cái thùng gỗ và mấy thứ khác bên cạnh. Cột
buồm cao gần bằng chiều cao của căn lều một buồng. Vách lều
được ghép bằng thân loài cọ xù xì có tên gọi là guano; trong
lều có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cái bếp
trên nền đất để nấu bằng than củi. Trên bức tường màu nâu của
những thân cọ guano đập giập với mấy chiếc lá cứng queo của
chúng chồng lên nhau, là hai bức ảnh màu của Đức Chúa Jesus
và Đức Mẹ Đồng Trinh xứ Cobre. Đấy là di vật của vợ lão. Có
dạo bức ảnh tô màu của vợ lão cũng được treo trên tường
nhưng rồi lão đã tháo xuống bởi nó khiến lão càng cô đơn hơn
khi nhìn thấy, lão để nó trên giá trong góc dưới chiếc sơ mi
sạch của lão.
“ông có gì ăn không… ”, thằng bé hỏi.
“Một niêu cơm gạo vàng với cá. Cháu có muốn ăn
không… ”.
“Thưa không. Cháu sẽ ăn ở nhà. ông có cần cháu nhóm lửa
không… ”.
“Không. Để lát nữa ông nhóm. Hoặc có lẽ ông sẽ ăn cơm
nguội”.
“Cháu có thể mang cái lưới - quăng đi chứ… ”.
“Dĩ nhiên”. Không có cái lưới - quăng nào cả, thằng bé nhớ
rõ cái lúc họ bán nó. Nhưng ngày nào hai ông cháu cũng vờ
tưởng tượng như thế. Và thằng bé cũng biết chẳng có niêu
cơm gạo vàng và cá nào cả.
“Tám mươi lăm là con số may mắn”, ông lão nói.
“Cháu có thích ông mang về con cá nặng gần nửa tấn
không… ”.
“Cháu sẽ lấy cái lưới - quăng đi bắt cá mòi. ông ngồi sưởi
nắng trên ngưỡng cửa chứ… ”.
“ừ. ông có tờ báo hôm qua và sẽ đọc về trận bóng chày”.
Thằng bé không chắc liệu cái tờ báo hôm qua ấy có phải là sản
phẩm của trí tưởng tượng nữa không. Nhưng ông lão đã lôi tờ
báo từ dưới giường ra.
“Perico cho ông ở bodega”, lão giải thích.
“Cháu sẽ quay lại khi kiếm được vài con cá mòi. Cháu sẽ
ướp đá mấy con của ông cùng của cháu rồi sáng mai chúng ta
chia nhau. Khi cháu quay lại, ông nhớ kể cho cháu nghe
chuyện đội bóng đấy”.
“Đội Yankee không thể thua”.
“Nhưng cháu sợ đội Da Đỏ Cleveland”.
“Hãy tin vào đội Yankee, cháu à. Hãy tin tưởng ở Di
Maggio vĩ đại”.
“Cháu sợ cả đội Hổ Detroit lẫn đội Da Đỏ Cleveland”.
“Hãy coi chừng không khéo cháu lại sợ cả đội Đỏ
Cincinnati và đội White Sox của Chicago”.
“ông đọc đi rồi kể cho cháu lúc cháu quay lại”.
“Cháu có nghĩ chúng ta nên mua tờ vé số có số cuối là tám
mươi lăm không… Mai là ngày thứ tám mươi lăm”.
“Chúng ta có thể mua”, thằng bé nói.
“Nhưng thế còn con số cực kỳ kỷ lục của ông là tám mươi
bảy”.
“Không thể xảy ra lần thứ hai đâu. Cháu có chắc là cháu có
thể tìm được tờ vé số tám mươi lăm ấy chứ… ”
“Cháu có thể mua một chiếc”.
“Một chiếc. Hai đô la rưỡi đấy. Ai có thể cho chúng ta vay
món tiền ấy… ”
“Dễ thôi mà. Cháu luôn có khả năng vay hai đô rưỡi”.
“ông nghĩ có lẽ ông cũng có khả năng đó. Nhưng ông cố
không vay mượn. Thoạt tiên thì vay mượn. Rồi sau đó là ăn
mày”.
“Hãy giữ ấm ông ạ”, thằng bé nói.
“Chúng ta đã qua tháng chín”.
“Tháng này là mùa cá lớn”, ông lão nói.
“Vào tháng năm thì ai cũng có thể trở thành người đánh
cá”.
“Bây giờ cháu đi kiếm cá mòi đây”, thằng bé nói. Khi
thằng bé trở lại ông lão đã ngủ trên ghế, mặt trời đã lặn. Thằng
bé mang cái mền lính cũ trong giường ra trải lên phía sau ghế,
đắp qua vai ông lão. Đôi vai thật kỳ lạ, vẫn chắc nịch dẫu đã
rất già, cả cái cổ vẫn còn khỏe, những nếp nhăn mờ đi khi ông
lão ngủ gục đầu về phía trước. Chiếc sơ mi của ông được vá
nhiều lần đến nỗi trông nó cũng hệt như tấm buồm; mặt trời
làm mấy miếng vá ấy phai nhạt theo nhiều màu khác nhau.
Dẫu sao thì cái đầu ông lão cũng đã rất già và khi đôi mắt
nhắm lại thì khuôn mặt lão không còn sinh khí. Tờ báo nằm
vắt qua đầu gối lão, độ nặng của cánh tay giữ nó ở lại đó trong
làn gió nhẹ buổi tối. Lão đi chân trần. Thằng bé để lão ở đó và
khi nó quay lại ông lão vẫn còn ngủ.
“ông ơi, dậy đi”, thằng bé gọi và đặt tay lên đầu gối lão.
ông lão mở mắt, ngơ ngác một lúc rồi mới tỉnh hẳn. Rồi lão
mỉm cười.
“Cháu có cái gì đấy”, lão hỏi.
“Đồ ăn tối”, thằng bé nói.
“Chúng ta sẽ ăn tối”.
“ông không đói lắm đâu”.
“Thì cứ ăn vậy. ông không thể không ăn mà bắt cá được”.
“Vẫn cứ câu được”, ông lão nói lúc đứng dậy cầm tờ báo
gấp lại. Rồi lão chuẩn bị xếp mền.
“ông cứ quấn mền quanh người”, thằng bé nói.
“Trong lúc cháu còn sống thì ông không phải nhịn đói mà
đi câu cá”.
“Vậy thì hãy sống cho thật lâu và quan tâm đến bản thân
mình”, ông lão nói.
“Ta ăn gì vậy… ”.
“Đậu đen, cơm, chuối chiên và ít thịt hầm”. Thằng bé đựng
mấy món ấy trong chiếc cặp lồng hai ngăn, mang về từ
Terrace. Hai bộ dao nĩa, thìa được quấn bằng giấy ăn đút trong
túi nó.
“Ai cho cháu mấy món này… ”
“Bác Martin. Chủ quán”.
“ông phải cảm ơn bác ấy”.
“Cháu đã cảm ơn rồi”, thằng bé nói.
“ông không phải cảm ơn bác ấy nữa”.
“ông sẽ biếu bác ấy miếng thịt bụng của con cá lớn”, ông
lão nói.
“Bác ấy đã nhiều lần cho chúng ta như thế này phải
không… ”
“Cháu nghĩ thế”.
“Vậy thì ông phải biếu bác ấy cái gì quí hơn miếng thịt
bụng. Bác ấy rất tử tế với chúng ta”.
“Bác ấy gửi biếu hai chai bia”.
“ông thích bia lon nhất”.
“Cháu biết. Nhưng đây là bia Hatuey đóng chai, cháu sẽ
mang trả chai”.
“Cháu chu đáo quá”, ông lão nói.
“Ta ăn chứ… ”
“Thì cháu đã mời ông mãi, ” thằng bé dịu dàng nói.
“Cháu chưa muốn mở cặp lồng trước khi ông đã sẵn sàng”.
“ông sẽ sẵn sàng ngay”, ông lão nói.
“ông chỉ rửa sơ qua một tí”. ông rửa ở đâu nhỉ, thằng bé
nghĩ. “Món thịt hầm của cháu tuyệt lắm”, ông lão nói.
“Kể cho cháu nghe về trận bóng đi”, thằng bé giục lão.
“Như ông đã nói, trong Liên đoàn Mỹ, đấy là đội Yankee”,
ông lão hạnh phúc nói.
“Hôm nay họ thua rồi”, thằng bé nói với lão.
“Điều đó chẳng hề gì. Di Maggio vĩ đại vẫn cứ là Di
Maggio”.
“Họ có những cầu thủ khác trong đội”.
“Rõ rồi. Nhưng anh ta thì khác hẳn. Trong liên đoàn khác,
nếu giữa Brooklán và Philadelphia thì chắc ông chọn
Brooklán. ông còn nhớ đến cả Dick Sisler và những cú vụt
bóng lừng danh trên sân đấu trước đây nữa”.
“Không có ai sánh bằng đâu. Trong đời cháu mới chỉ thấy
anh ấy là người vụt bóng đi xa nhất”.
“Cháu có còn nhớ thuở anh ấy thường đến Terrace
không… ông muốn mời anh ấy đi câu cùng nhưng lại quá nhút
nhát để đưa ra lời đề nghị. Khi ông bảo cháu mời anh ấy thì
cháu lại cũng nhát gan”.
“Cháu biết. Đấy là một lỗi lầm tai hại. Chắc anh ấy sẽ đi
cùng chúng ta. Rồi chúng ta sẽ giữ kỷ niệm ấy trong suốt cả
cuộc đời”.
“ông cũng muốn đưa Di Maggio vĩ đại đi câu”, ông lão nói.
“Người ta bảo cha anh ấy là ngư dân. Có lẽ anh ấy cũng
nghèo như ta và sẽ thông cảm”.
“Cha của Siạler lừng danh thì chẳng nghèo tí nào, ông ta,
lúc vào độ tuổi của cháu, đã chơi cho Liên đoàn Big”.
“Khi bằng tuổi cháu, ông đã đứng trước cánh buồm, trên
con tàu được trang bị chu đáo đến châu Phi và ông đã nhìn
thấy sư tử trên bờ biển vào lúc chiều tối”.
“Cháu biết. ông đã kể cho cháu nghe rồi”.
“Ta nên nói chuyện về châu Phi hay về bóng chày… ”
“Cháu nghĩ là bóng chày”, thằng bé đáp.
“Kể cho cháu nghe về danh thủ John J. McGraw”. Nó nói
Jota thay vì chỉ phát âm chữ J.
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
Ernest Hemingway
www.dtv-ebook.com
Chương 2
“T hỉnh thoảng vào những ngày xa xưa ấy, anh ta thường
đến Terrace. Nhưng khi đã rượu vào thì anh ta nóng nảy, nói
năng nhát gừng và khó đăm đăm. Đầu óc anh ta dồn hết cả vào
ngựa và bóng chày. Lúc nào anh ta cũng giữ danh sách ngựa
trong túi áo rồi cứ xướng tên qua điện thoại”.
“T “ông ta là tay quản lý ra trò”, thằng bé nói.
“Cha cháu nghĩ ông ta là người vĩ đại nhất”.
“Bởi vì lúc nào anh ta cũng đến đây”, ông lão nói.
“Nếu hằng năm Durocher cứ đến đây thì chắc cha cháu sẽ
nghĩ anh ta là tay quản lý cừ khôi nhất”.
“Thật ra ai là ông bầu vĩ đại nhất, Luque hay Mike
Gonzalez… ”
“ông nghĩ hai người ngang nhau”.
“Còn người đánh cá tài ba nhất là ông”.
“Không. ông biết nhiều người giỏi hơn”.
“Que va”, thằng bé thốt lên.
“Có nhiều người đánh cá giỏi và vài người vĩ đại. Nhưng
ông là người duy nhất”.
“Cám ơn. Cháu làm ông hạnh phúc. ông hy vọng sẽ không
có con cá nào cùng vĩ đại như thế để chứng minh rằng ông
cháu ta sai”.
“Sẽ chẳng có con cá nào như thế nếu ông vẫn còn khỏe như
ông nói”.
“Có lẽ ông không được khỏe như ông nghĩ đâu”, ông lão
nói.
“Nhưng ông biết nhiều mẹo và có cách xử lý”.
“Giờ thì ông nên ngủ đi để sáng mai khỏe khoắn. Cháu
mang mấy thứ trả Terrace”.
“Vậy thì tạm biệt. Sáng mai ông sẽ đến đánh thức cháu”.
“ông là cái đồng hồ của cháu”, thằng bé nói.
“Tuổi tác là đồng hồ của ông”, ông lão nói.
“Tại sao người già lại thức giấc quá sớm… Phải chăng là
muốn có một ngày dài hơn… ”
“Cháu không biết”, thằng bé nói.
“Những gì cháu biết là người trẻ thì ngủ dậy muộn và khó”.
“ông nhớ”, ông lão nói.
“ông sẽ đánh thức cháu đúng giờ”.
“Cháu không thích ông ta đánh thức cháu. Việc đó như thể
cháu là kẻ bề dưới”.
“ông hiểu”.
“Chúc ông ngủ ngon”. Thằng bé đi ra. Họ ăn mò, không có
đèn trên bàn; ông lão cởi quần dài, đi ngủ trong bóng tối. Lão
quấn chiếc quần quanh tờ báo làm gối. Lão cuộn người trong
chăn, nằm lên những tờ báo cũ trải trên giát giường. Lão ngủ
ngay và mơ về châu Phi, khi lão hãy còn là một chú nhóc, với
những bờ biển cát vàng, cát trắng trải dài, trắng đến nỗi làm
mắt đau nhức, những mũi đất cao nhô ra biển, những ngọn núi
xám đồ sộ. Bây giờ hằng đêm lão về lại bờ biển ấy và trong
mơ lão nghe tiếng sóng gầm, lão thấy đoàn thuyền của người
bản địa đang trườn qua những con sóng. Khi ngủ, lão ngửi
thấy mùi nhựa đường, mùi gỗ sồi lát boong tàu; rồi lão ngửi
thấy hương vị châu Phi theo làn gió đất phả tới vào buổi sáng.
Thông thường khi ngửi thấy làn gió nội địa, lão thức dậy, mặc
đồ, đến đánh thức thằng bé. Nhưng đêm nay, gió nội địa đến
rất sớm và trong mơ lão biết hãy còn quá sớm nên lão tiếp tục
mơ để thấy những mỏm trắng xóa của những hòn đảo nhô trên
biển, lát sau lão mơ về những hải cảng khác, những vũng tàu
đậu khác của quần đảo Canará. Lão không còn mơ về bão,
không còn mơ về đàn bà, về những sự kiện trọng đại, những
con cá lớn, những trận đánh, những cuộc đấu sức hay vợ lão.
Bây giờ lão chỉ mơ về các vùng đất, về những con sư tử trên
bờ biển. Chúng nô đùa như những chú mèo con trong hoàng
hôn; lão yêu chúng như yêu thằng bé. Lão không bao giờ mơ
về thằng bé. Lão chợt thức giấc, nhìn ánh trăng bên ngoài cánh
cửa để ngỏ rồi giũ quần mặc vào. Lão tiểu bên lều rồi đi lên
đường đánh thức thằng bé. Lão rùng mình trong bầu không khí
lạnh ban mai. Nhưng lão biết lão sẽ còn run mãi cho đến lúc
tay chèo làm lão ấm lên. Cánh cửa ngôi nhà thằng bé sống
không khóa, lão mở rồi khẽ đưa đôi chân trần bước vào. Thằng
bé ngủ trên chiếc giường nhỏ ở phòng đầu tiên; và ông lão,
trong ánh trăng sắp lặn, có thể nhìn rõ nó. Lão nhẹ nhàng nắm
lấy một bàn chân, giữ cho đến khi thằng bé thức giấc, quay lại
nhìn lão. ông lão gật đầu, thằng bé lấy chiếc quần dài vắt trên
ghế cạnh giường, mặc vào khi còn ngồi trên giường. ông lão ra
cửa, thằng bé đi theo. Nó đang ngái ngủ, lão quàng tay qua vai
nó và nói, “ông xin lỗi”.
“Queva”, thằng bé nói.
“Đấy là việc mà một người đàn ông phải làm”. Họ xuống
đường đến lều ông lão và suốt dọc đường, trong bóng tối,
nhiều người đi chân trần, vác buồm ra thuyền. Khi hai người
đến lều ông lão, thằng bé xách cái xô đựng cuộn dây, cây lao,
cây sào móc; còn ông lão vác cột buồm với lá buồm đã quấn
lại.
“ông có muốn uống cà phê không… ”, thằng bé hỏi.
“Chúng ta để dụng cụ xuống thuyền rồi đi uống”. Họ uống
cà phê trong hộp đựng sữa đặc tại điểm phục vụ những người
đánh cá vào sáng sớm.
“ông ngủ có ngon không… ”, thằng bé hỏi. Giờ thì nó dần
tỉnh táo hơn như thể giấc ngủ hẵng cứ bám riết lấy nó.
“Rất ngon, Manolin à”, ông lão đáp.
“Hôm nay ông cảm thấy tự tin”.
“Cháu cũng thế”, thằng bé nói.
“Bây giờ cháu phải đi lấy cá mòi của ông cháu ta và số mồi
tươi của ông. Tự ông ấy mang dụng cụ. ông ấy chẳng hề muốn
bất kỳ ai mang bất cứ thứ gì”.
“Chúng ta thì khác”, ông lão nói.
“ông để cháu mang đồ nghề kể từ lúc cháu lên năm”.
“Cháu biết điều đó”, thằng bé nói.
“Cháu sẽ về ngay. ông cứ uống thêm tí nữa. Chúng ta có
thể uống chịu ở đây”. Nó đi chân không trên lớp san hô đến
nhà ướp lạnh nơi mồi được giữ ở đấy. ông lão chậm rãi uống
cà phê. Đấy là tất cả thực phẩm lão có cho một ngày và lão
biết lão nên uống. Đã từ lâu, ăn uống đối với lão trở nên chán
ngắt và lão không bao giờ mang theo bữa trưa. Lão có một
chai nước đằng mũi thuyền và đấy là tất cả lão cần trong một
ngày. Lúc này thằng bé đã quay lại, mấy con cá mòi và hai
miếng mồi câu được bọc trong tờ báo, hai người men theo lối
mòn đến thuyền, chân giẫm lên lớp cát pha sỏi, nâng con
thuyền đẩy xuống nước.
“Chúc ông may mắn”.
“Chúc cháu may mắn”, ông lão nói. Lão tra quai chèo vào
cọc, nghiêng người tới trước khua mạnh mái chèo xuống
nước; trong bóng tối, lão chèo ra khỏi bến. Có nhiều chiếc
thuyền từ các bãi khác ra khơi; ông lão nghe tiếng mái chèo
khua nước mặc dù lão không thể nhìn thấy họ bởi bây giờ mặt
trăng đã khuất sau rặng đồi. Thỉnh thoảng, có tiếng ai đó nói
trên thuyền. Nhưng hầu hết các thuyền đều im lặng trừ tiếng
mái chèo khua nước. Họ tỏa rộng sau khi ra khỏi cửa biển;
mỗi người đi đến phần đại dương nơi họ hy vọng tìm thấy cá.
ông lão biết mình sẽ đi thật xa, để lại mùi đất sau lưng, chèo
vào vùng hương tinh khôi của đại dương ban mai. Lão thấy
ánh lân quang của đám rong vùng Nhiệt lưu trong nước khi lão
chèo qua vùng biển mà ngư dân gọi là vùng Giếng lớn, bởi vì
độ sâu ở đấy bất thình lình tụt xuống đến bảy trăm sải nước;
họ hàng nhà cá đều dồn tất tại đó do xoYy nước dội thẳng vào
bờ vách dốc của đáy đại dương. ở đấy tập trung tôm, cá mòi và
thỉnh thoảng hàng đàn cá mực, sống trong những hố sâu nhất
ngoi lên gần mặt nước vào ban đêm để làm mồi cho những con
cá lang thang.
Trong bóng tối, ông lão có thể cảm nhận bình minh đang
đến và lúc chèo, lão nghe thấy những âm thanh run rẩy khi đàn
cá chuồn rời mặt nước và cả tiếng lao xao phát ra từ bộ cánh
cứng khi chúng lao xao trong bóng tối. Lão rất quý loài cá
chuồn bởi chúng là bạn gần gũi của lão trên đại dương. Lão
thương cho lũ chim, đặc biệt là loài nhạn đen nhỏ, mỏng manh
cứ bay và tìm kiếm mãi nhưng hầu như chẳng tìm thấy gì; lão
nghĩ loài chim sống khổ hơn ta trừ mấy cái giống chim kẻ
cướp và những loài to xác, kềnh càng. Tại sao tạo hóa lại sinh
ra cái giống chim quá xinh xẻo mỏng manh như loài nhạn biển
này trong khi đại dương lại có thể quá ư nghiệt ngã…
Đại dương tử tế và rất đẹp. Nhưng nó có thể rất độc ác và
tráo trở bất thình lình; còn loài chim kia thì phải bay, nhao
xuống săn mồi; và tiếng kêu thảng thốt, khẽ khàng của chúng
lại quá yếu ớt giữa trùng khơi. Lão luôn nghĩ về biển như
lamar, đấy là cách người ta gọi biển bằng tiếng Tây Ban Nha
khi họ yêu biển. Thỉnh thoảng những người yêu biển cũng
buông lời nguyền rủa biển nhưng họ luôn nói như thể biển là
phụ nữ. Vài tay đánh cá trẻ, sử dụng phao nhựa làm phao câu
và đi thuyền máy, sắm được khi gan cá mập được giá, gọi biển
là el mar, tức giống đực. Chúng nói về biển như một đối thủ,
một địa điểm hay thậm chí là một kẻ thù. Nhưng ông lão thì
luôn nghĩ về biển như về một phụ nữ, như cái gì đó có thể ban
phát hay chối giữ ơn huệ, và nếu biển làm điều ác độc hay tàn
bạo thì bởi lẽ lúc ấy biển không thể nào kìm giữ nổi. Mặt trăng
tỏa chiếu trên biển như thể tỏa chiếu trên cơ thể của người đàn
bà, lão nghĩ. Lão buông chèo nhịp nhàng, không phải mất
nhiều sức bởi lão làm chủ tốc độ của mình và bởi đại dương
bình lặng trừ đôi chỗ có dòng xoYy. Lão đang để dòng chảy
đỡ đi một phần ba công việc và khi trời vừa hửng sáng lão
thấy mình đã đi xa hơn quãng đường lão nghĩ vào thời điểm
ấy. Mình đã câu ở vùng Giếng lớn suốt cả tuần nay mà chẳng
bắt được mống nào hết, lão nghĩ. Hôm nay mình sẽ ra tận nơi
các đàn cá bonito và albacore kiếm ăn và có thể con cá lớn sẽ
quanh quẩn đâu đấy. Trước khi trời sáng rõ, lão buông mồi và
thả thuyền trôi theo dòng chảy. Một con mồi ở độ sâu bốn
mươi sải. Mồi thứ hai sâu tới bảy mươi lăm sải; mồi thứ ba và
thứ tư chìm sâu hút trong làn nước xanh đến độ sâu một trăm
và một trăm hai mươi lăm sải. Mỗi con mồi được móc ngược
đầu xuống, lưỡi câu giấu trong thân Tiếng Tây Ban Nha chỉ
một loài sứa. cá, buộc chặt, khâu kỹ và những phần thòi ra của
lưỡi câu, đoạn cong và mũi nhọn, thì được che bằng những
con cá mòi tươi rói. Chúng bị móc xuyên qua hai mắt tạo
thành nửa vòng hoa trên cuống thép. Không còn phần nào của
lưỡi câu để con cá lớn có thể nhận ra ngoại trừ hương vị thơm
lừng quyến rũ. Thằng bé cho ông lão hai con cá thu nhỏ tươi,
thuộc loài albacore; lão móc chúng vào hai lưỡi câu sâu nhất,
chúng nặng như thể mấy hòn chì; còn ở hai lưỡi kia, lão móc
một con nục sòng lớn, màu xanh và một con ngừ bạc đã được
sử dụng hôm trước; nhưng chúng vẫn còn tốt và xâu cá mòi
thơm phức giúp chúng tỏa hương hấp dẫn. Mỗi dây câu, lớn
bằng cây bút chì cỡ lớn, được buộc vào một cái phao bằng que
gỗ màu xanh lục để bất kỳ một cú kéo, một cú đớp nào vào
miếng mồi cũng khiến phao gỗ chìm xuống; mỗi dây câu còn
có hai cuộn dây dài bốn mươi sải dự phòng sẵn sàng nối với
các cuộn khác để khi cần thiết, con cá có thể có hơn ba trăm
sải dây. Bây giờ lão quan sát mũi của ba chiếc phao gỗ bên
mạn thuyền, chèo nhẹ để giữ cho mấy sợi dây thẳng đứng đến
độ sâu cần thiết của chúng. Trời đã sáng hẳn và chẳng mấy
nữa mặt trời sẽ mọc lên. Mặt trời nhô lên mặt biển, ông lão có
thể nhìn thấy những thuyền khác, chìm thấp trong nước, dàn
rộng qua dòng chảy, phía gần bờ. Khi mặt trời rực rỡ hơn, ánh
nắng chiếu xuống mặt nước và lát sau, lúc nó cao hẳn lên, mặt
biển phẳng lặng phản chiếu ánh nắng dội vào mắt lão làm đau
nhức; lão chèo mà không nhìn vào nó nữa. Lão nhìn xuống
nước, theo dõi mấy sợi dây được thả thẳng đứng xuống vùng
đen của đại dương. Lão giữ chúng thẳng hơn bất kỳ một ai
khác, để ở mỗi độ sâu trong vùng nước đen kia sẽ có một con
mồi đợi đúng ngay ở đấy, nơi lão muốn dành cho bất cứ con cá
nào bơi qua. Các tay câu khác thì để chúng trôi theo dòng chảy
và đôi khi chúng chỉ ở độ sâu sáu mươi thay vì một trăm sải
như họ m u ố n. Nhưng, lão nghĩ, mình giữ chúng chính xác.
Duy chỉ mình không còn may mắn nữa thôi. Nhưng biết đâu
được…
Có thể hôm nay. Mỗi ngày là một ngày mới. Gặp may thì
tốt hơn. Nhưng mình ưa sự chính xác. Để khi vận may đến thì
mình đã sẵn sàng. Bây giờ mặt trời đã mọc cao được hai tiếng
đồng hồ, nó không làm mắt lão đau nhiều khi nhìn về hướng
Đông nữa. Giờ đây, trong tầm mắt, chỉ còn lại ba bóng thuyền,
mạn lún sâu xuống nước và ở mãi tít phía trong bờ. Suốt cả
đời, bình minh làm buốt mắt ta, lão nghĩ. Nhưng chúng vẫn
còn tinh anh. Vào lúc chiều tối, ta có thể nhìn thẳng vào nó mà
không bị những đốm đen trong mắt. Buổi chiều, ánh nắng
mạnh hơn. Nhưng buổi sáng nó làm ta nhức nhối. Ngay khi đó
lão thấy một con hải bằng tung đôi cánh đen dài lượn trên bầu
trời trên đầu lão. Nó sà xuống nhanh, nghiêng cánh chao người
rồi bay vòng trở lại.
“Nó tóm được con gì rồi”, ông lão nói lớn.
“Nó không chỉ nhìn đâu”. Lão chèo chậm rãi, đều đặn tiến
về phía con chim đang lượn vòng. Lão không vội, lão cần giữ
cho những sợi dây thẳng đứng xuống. Nhưng lão hơi nhanh
hơn dòng nước một chút trong chừng mực lão vẫn câu đúng,
nếu lão không cố bám theo con chim thì lão sẽ không chèo
nhanh hơn cách lão thường câu. Con chim bay cao hơn, lại
lượn vòng, đôi cánh bất động. Rồi thình lình nó lao xuống, lão
thấy đàn cá chuồn tung mình lên khỏi mặt nước, tuyệt vọng
bay trên mặt biển.
“Dorado”, ông lão nói lớn.
“Cá dorado lớn”.
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
Ernest Hemingway
www.dtv-ebook.com
Chương 3
Lão dừng chèo, lôi ra sợi dây câu nhỏ đằng mũi thuyền.
Dây câu này có đáy thép và lưỡi câu cỡ trung bình, lão móc
mồi bằng một con mòi. Lão buông câu qua mạn thuyền rồi
buộc nó vào cái khoen đằng sau lái. Lão tiếp tục móc mồi lưỡi
câu khác rồi vẫn để nó cuộn như thế trong bóng mát mũi
thuyền. Lão quay lại chèo và trông chừng con chim có sải
cánh đen rộng bây giờ đang sà thấp xuống kiếm mồi trên mặt
nước. Khi lão quan sát, con chim lại nhào xuống, nghiêng
cánh liệng rồi đập loạn xạ, bất lực khi bám theo đàn cá chuồn.
ông lão có thể nhìn thấy mặt nước khẽ cuộn lên chỗ đàn cá
dorado lớn nhao người đuổi theo bầy cá chuồn đang lẩn trốn.
Đám cá dorado đang cắt xuyên vùng nước bên dưới đường bay
của đàn cá, lao hết tốc lực đợi đàn cá rơi xuống. Đàn cá
dorado lớn, lão nghĩ. Chúng dàn rộng ra, lũ cá chuồn có ít cơ
hội trốn thoát. Con chim cũng không có cơ hội. Đàn cá chuồn
quá lớn so với nó, vả lại chúng lao đi rất nhanh. Lão nhìn theo
đàn cá chuồn cứ phóng lên lặn xuống và những cú chao mình
vô ích của con chim. Đàn cá ấy đã rời xa ta, lão nghĩ. Chúng di
chuyển nhanh quá và xa quá. Nhưng chắc chắn ta sẽ tóm được
một chú đi lạc và có lẽ con cá lớn của ta hẳn quanh quẩn bên
chúng. Con cá lớn của ta hẳn đang ở đâu đó. Bây giờ những
đám mây trên đất liền đùn lên tựa những quả núi và bờ biển
chỉ còn là một vệt xanh dài với rặng đồi xanh thẫm đằng sau
nó. Giờ đây, mặt nước xanh thẫm, thẫm đến nỗi như ngả sang
màu tím. Khi nhìn xuống, lão thấy những vệt rêu đỏ trong làn
nước tối sẫm và bây giờ mặt trời lấp lánh những tia sáng kỳ lạ.
Lão dõi theo mấy sợi dây câu để thấy chúng chạy thẳng xuống
ngút khỏi tầm mắt trong đáy nước và lão hạnh phúc khi thấy
nhiều rêu biển, bởi đấy là dấu hiệu có cá. ánh sáng kỳ lạ của
mặt trời chiếu vào làn nước cho thấy giờ đây mặt trời Prev
Page 19 Next đã lên cao hơn, có nghĩa thời tiết thuận; cả hình
thù của những đám mây trên đất liền kia cũng báo hiệu điều
đó. Nhưng giờ thì con chim đã gần như khuất khỏi tầm mắt,
trên mặt nước chẳng còn gì nữa, ngoại trừ những vệt rong
Sargasạo vàng ệch, bạc màu dưới nắng trời và cái cơ thể nung
núc, đỏ tía, nhão nhớt, sặc sỡ đủ màu của một con sứa đang
lềnh bềnh bên mạn thuyền. Nó nghiêng mình rồi trở người lại
ngay ngắn. Nó háo hức trôi đi tựa cái bong bóng xà phòng,
kéo theo những sợi tua dài gần một mét màu đỏ tía chết chóc
ngầm trong nước.
L “Agua mala”, lão nói.
“Đồ điếm”. Từ nơi khẽ đưa mái chèo, lão nhìn xuống nước
và thấy những con cá nhỏ có cùng màu với đám sợi tua đang
bơi giữa chúng và cả dưới cái bóng nhỏ mà con sứa kia tạo ra
khi trôi đi. Lũ cá ấy có khả năng đề kháng với nọc độc sứa.
Nhưng con người thì không và có dạo mấy sợi ...
Ernest Hemingway
Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com
Giới Thiệu
Cùng với William Faulkner, Hemingway được xem là người
khai sinh ra nền văn xuôi hiện đại Mỹ. Tầm ảnh hưởng của
ông càng về cuối thế kỉ càng rõ nét. G.G. Marquez gọi ông là
thầy và nhiều nhà văn Mỹ đương đại suy tôn ông làm người
khai sinh ra trường phái Chủ nghĩa cực hạn (Minimalism).
Ông già và Biển cả (tên tiếng Anh: The Old Man and the Sea)
là một tiểu thuyết ngắn được Ernest Hemingway viết ở Cu ba
năm 1951 và xuất bản năm 1952. Nó là truyện ngắn dạng viễn
tưởng cuối cùng được viết và xuất bản khi ông còn sống. Đây
cũng là tác phẩm nổi tiếng và là một trong những đỉnh cao
trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Trong tác phẩm này ông
đã triệt để dùng nguyên lý “tảng băng trôi”, chỉ mô tả một
phần nổi còn lại bảy phần chìm, khi tái hiện cuộc chiến đấu
không cân sức giữa đàn cá hung dữ với ông già. Tác phẩm ca
ngợi con người, sức lao động và khát vọng của con người.
Nhân vật trung tâm của các phẩm là một “ông già” người Cu
ba, người đã cố gắng chiến đấu trong ba ngày đêm vật lộn với
một con cá kiếm khổng lồ trên biển vùng Giếng Lớn khi ông
câu được nó. Sang đến ngày thứ ba, ông dùng lao đâm chết
được con cá, buộc nó vào mạn thuyền và lôi về nhưng đàn cá
mập đánh hơi thấy đã lăn xả tới, ông lại đem hết sức tàn chống
chọi với lũ cá mập, phóng lao, thậm chí cả mái chèo để đánh.
Ông giết được nhiều con, đuổi được chúng đi, nhưng cuối
cùng khi nhìn đến con cá kiếm của mình thì nó đã bị rỉa hết
thịt chỉ còn trơ lại một bộ xương khổng lồ. Tác phẩm là khúc
hát ca ngợi con người, sức lao động và khát vọng của con
người.
Mời các bạn đón đọc!
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
Ernest Hemingway
Mục Lục
Giới Thiệu
Mục Lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
Ernest Hemingway
www.dtv-ebook.com
Chương 1
Lão đã già, một mình một thuyền câu cá trên dòng Nhiệt
lưu và đã tám mươi tư ngày qua lão không bắt được lấy một
mống cá nào. Bốn mươi ngày đầu thằng bé đi với lão. Nhưng
sau bốn mươi ngày không câu được cá, cha mẹ thằng bé bảo
nó rằng rốt cuộc bây giờ ông lão đã hoàn toàn salao, cách diễn
đạt tệ nhất của vận rủi, rồi buộc nó đi theo thuyền khác và
ngay trong tuần lễ đầu tiên chiếc thuyền ấy đã câu được ba con
cá lớn. Điều đó khiến thằng bé buồn khi hằng ngày thấy ông
lão trở về với chiếc thuyền không, nó luôn xuống giúp lão
mang khi thì cuộn dây, cái lao móc săn cá, khi thì cái sào hay
tấm buồm quấn quanh cột. Tấm buồm được vá bằng bao bột,
cuộn lại trông như một lá cờ bại trận triền miên. ông lão gầy
gò, giơ cả xương, gáy hằn sâu nhiều nếp nhăn. Những vệt nám
vô hại trên làn da má của lão do bị ung thư bởi ánh mặt trời
phản hồi trên mặt biển nhiệt đới. Những vệt ấy kéo dài xuống
cả hai bên má, tay lão hằn những vết sẹo sâu bởi kéo những
con cá lớn. Nhưng chẳng có vết nào trong số sẹo ấy còn mới
cả. Chúng cũ kỹ như mấy vệt xói mòn trên sa mạc không cá.
Mọi thứ trên cơ thể lão đều toát lên vẻ già nua, trừ đôi mắt;
chúng có cùng màu với nước biển, vui vẻ và không hề thất bại.
L “ông Santiago, thằng bé nói khi hai người leo lên bờ nơi
con thuyền được kéo lên.
“Cháu có thể lại đi cùng ông. Chúng ta đã có ít tiền rồi.
ông lão dạy thằng bé câu cá và nó quý lão.
“Đừng”, lão nói.
“Cháu đang đi với con thuyền may mắn. Hãy ở lại với họ”.
“Nhưng ông còn nhớ có hồi suốt tám mươi bảy ngày ta
không bắt được cá nhưng sau đó trong ba tuần lễ ngày nào ta
cũng vớ được cá lớn”.
“ông nhớ”, ông lão nói.
“ông biết cháu đã không rời bỏ ông vì thiếu lòng tin”.
“Tại cha cháu bắt làm như thế. Cháu còn nhỏ, cháu phải
nghe lời cha”.
“ông hiểu”, ông lão nói.
“Đấy là chuyện thường”.
“Cha cháu chẳng tin đâu”.
“Phải”, ông lão nói.
“Nhưng chúng ta tin, đúng không… ”
“Vâng”, thằng bé đáp.
“Cháu có thể mời ông một lá bia ở khách sạn Terrace trước
khi chúng ta mang mấy thứ này về nhà chứ… ”
“Tại sao lại không… ”, ông lão nói.
“Dân chài với nhau cả mà”. Họ ngồi ở Terrace và rất nhiều
người đánh cá trêu ông lão nhưng lão không giận. Một số
khác, những ngư dân lớn tuổi hơn, nhìn lão và cảm thấy buồn.
Nhưng họ không để lộ ra mà chỉ từ tốn nói về dòng chảy, độ
sâu buông câu, về thời tiết tốt, ổn định và về những thứ họ đã
nhìn thấy. Mấy tay đánh cá thành công của ngày ấy đã trở về,
xả thịt con cá kiếm của họ, sắp đầy lên hai tấm ván, mỗi người
khiêng một đầu đi xuyên đến nhà để cá, đợi chiếc xe tải ướp
lạnh đưa đến chợ Havana. Những người bắt được cá mập thì
đưa chúng đến xưởng cá mập phía bên kia vịnh; chúng được
móc treo lên bằng ròng rọc, gan bị mổ lấy, vi bị cắt, da bị lột
và thịt thì được xẻ thành súc đưa ướp muối. Khi gió Đông
thổi, mùi tanh nồng từ xưởng cá mập bên kia cảng phả đến.
Nhưng hôm nay, mùi cá chỉ thoang thoảng vì gió thổi chếch
sang hướng Bắc rồi lặng hẳn; trên Terrace trời tỏa nắng dễ
chịu.
“ông Santiago”, thằng bé gọi.
“ừ”, ông lão đáp. Lão đang giữ cái lá và hồi tưởng về nhiều
năm trước.
“Cháu đi kiếm giúp ông mấy con cá mòi cho ngày mai
nhé… ”
“Đừng. Đi chơi bóng chày đi. ông vẫn có thể chèo và
Rogelio sẽ quăng lưới”. ” Cháu thích đi.
Nếu cháu không được câu cá với ông thì cháu muốn giúp
ông việc gì đó”.
“Cháu đã mua bia cho ông”, ông lão nói.
“Cháu thực sự là đàn ông rồi”.
“Lần đầu tiên ông đưa cháu ra khơi, cháu lên mấy… ”
“Lên năm, và suýt nữa cháu bị chết khi ông lôi con cá quá
lớn lên thuyền, nó gần như quật tan con thuyền ra nhiều mảnh.
Cháu có còn nhớ không… ”
“Cháu vẫn nhớ cái đuôi quật mạnh; chỗ ngồi chèo thuyền
bị gãy và tiếng nện của cái chày. Cháu nhớ ông ném cháu ra
đằng mũi thuyền, nơi lùng nhùng những sợi dây ướt rồi cháu
cảm thấy toàn bộ con thuyền chao đảo và tiếng ông quật con
cá nghe như thể đang đốn cây, máu nóng hổi bắn cả lên người
cháu”.
“Có phải cháu thực sự nhớ chuyện ấy hay là do ông kể… ”
“Cháu nhớ mọi thứ kể từ cái lần đầu tiên ông cháu ta đi
cùng nhau”. ông lão nhìn thằng bé bằng ánh mắt chan chứa
tình thương, tin cậy, ấm áp của mình.
“Nếu cháu là con ta thì ta sẽ đưa cháu đi cầu may một
phen”, lão nói.
“Nhưng cháu là con của cha mẹ cháu và cháu đang đi trên
con thuyền may mắn”.
“Cháu có thể đi kiếm cá mòi chứ… Cháu còn biết nơi cháu
có thể kiếm được bốn con mồi”.
“Hôm nay ông vẫn còn mấy con. ông đã muối chúng trong
thùng”.
“Để cháu đi kiếm bốn con tươi”.
“Một thôi”, ông lão nói. Niềm hy vọng và lòng tin của ông
lão chưa bao giờ nguội lạnh. Còn bây giờ thì chúng đang cuộn
lên như khi gió đang nổi.
“Hai”, thằng bé nói.
“Hai”, ông lão đồng ý.
“Cháu không ăn cắp đấy chứ… ”
“Cháu không”, thằng bé đáp.
“Cháu mua”.
“Cảm ơn cháu”, ông lão nói. Lão quá giản dị để không tự
hỏi tính nhún nhường của mình có tự bao giờ. Nhưng lão biết
lão đã có nó và lão biết nó chẳng có gì xấu hổ và cũng chẳng
mảy may phương hại đến niềm kiêu hãnh thực sự.
“Với con nước này, mai sẽ là một ngày tốt lành”, lão nói.
“ông sẽ đến đâu”, thằng bé hỏi.
“Đi thật xa, khi gió trở thì mới quay về. ông muốn đến đấy
trước khi trời sáng”.
“Cháu sẽ tìm cách để ông ấy ra câu xa”, thằng bé nói.
“Rồi khi ông câu được một con gì đấy thật sự lớn, cháu sẽ
có thể đến giúp”.
“ông ấy không thích ra khơi xa đâu”.
“Vâng”, thằng bé nói.
“Nhưng cháu sẽ thấy cái gì đó, một con chim săn mồi
chẳng hạn, mà ông ấy không thể thấy rồi giục ông ta bám theo
bầy cá dorado”.
“Mắt ông ấy kém đến thế ư… ”.
“ông ấy gần như mù”.
“Lạ thật”, ông lão nói.
“ông ấy chưa bao giờ đi săn rùa. Đấy là lý do làm mắt kém
thị lực”.
“Nhưng ông đã nhiều năm đi săn rùa tận Moạquito Coaạt
mà mắt ông vẫn còn tốt”.
“Ta là một lão già kỳ lạ”.
“Nhưng giờ đây ông có còn đủ sức để dành cho con cá thật
lớn không… ”
“ông chắc thế. Vả lại còn có nhiều mẹo nữa”.
“Chúng ta hãy mang dụng cụ về nhà”, thằng bé nói.
“Rồi cháu có thể mang lưới - quăng đi bắt cá mòi”. Họ tháo
vật dụng khỏi thuyền. ông lão vác cột buồm, thằng bé mang
thùng gỗ đựng dây, những sợi dây câu màu nâu được bện thật
chắc, cái móc, ngọn lao với cán của nó. Thùng đựng mồi để ở
đuôi thuyền, bên cạnh cái chày được dùng để quật những con
cá lớn khi bị kéo lên khoang.
Chẳng ai ăn trộm đồ đạc của ông lão, nhưng tốt hơn thì cứ
đưa cánh buồm, cuộn dây nặng vào nhà bởi sương có thể làm
chúng hỏng và dẫu cho lão có hoàn toàn tin chắc là chẳng có
người địa phương nào ăn cắp của lão thì lão vẫn nghĩ cái móc
và ngọn lao hẳn có sức cám dỗ khi để trên thuyền. Họ cùng đi
bộ trên con đường đến lều ông lão rồi bước vào qua cánh cửa
để ngỏ. ông lão dựng cột buồm với lá buồm quấn quanh vào
vách, thằng bé đặt cái thùng gỗ và mấy thứ khác bên cạnh. Cột
buồm cao gần bằng chiều cao của căn lều một buồng. Vách lều
được ghép bằng thân loài cọ xù xì có tên gọi là guano; trong
lều có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cái bếp
trên nền đất để nấu bằng than củi. Trên bức tường màu nâu của
những thân cọ guano đập giập với mấy chiếc lá cứng queo của
chúng chồng lên nhau, là hai bức ảnh màu của Đức Chúa Jesus
và Đức Mẹ Đồng Trinh xứ Cobre. Đấy là di vật của vợ lão. Có
dạo bức ảnh tô màu của vợ lão cũng được treo trên tường
nhưng rồi lão đã tháo xuống bởi nó khiến lão càng cô đơn hơn
khi nhìn thấy, lão để nó trên giá trong góc dưới chiếc sơ mi
sạch của lão.
“ông có gì ăn không… ”, thằng bé hỏi.
“Một niêu cơm gạo vàng với cá. Cháu có muốn ăn
không… ”.
“Thưa không. Cháu sẽ ăn ở nhà. ông có cần cháu nhóm lửa
không… ”.
“Không. Để lát nữa ông nhóm. Hoặc có lẽ ông sẽ ăn cơm
nguội”.
“Cháu có thể mang cái lưới - quăng đi chứ… ”.
“Dĩ nhiên”. Không có cái lưới - quăng nào cả, thằng bé nhớ
rõ cái lúc họ bán nó. Nhưng ngày nào hai ông cháu cũng vờ
tưởng tượng như thế. Và thằng bé cũng biết chẳng có niêu
cơm gạo vàng và cá nào cả.
“Tám mươi lăm là con số may mắn”, ông lão nói.
“Cháu có thích ông mang về con cá nặng gần nửa tấn
không… ”.
“Cháu sẽ lấy cái lưới - quăng đi bắt cá mòi. ông ngồi sưởi
nắng trên ngưỡng cửa chứ… ”.
“ừ. ông có tờ báo hôm qua và sẽ đọc về trận bóng chày”.
Thằng bé không chắc liệu cái tờ báo hôm qua ấy có phải là sản
phẩm của trí tưởng tượng nữa không. Nhưng ông lão đã lôi tờ
báo từ dưới giường ra.
“Perico cho ông ở bodega”, lão giải thích.
“Cháu sẽ quay lại khi kiếm được vài con cá mòi. Cháu sẽ
ướp đá mấy con của ông cùng của cháu rồi sáng mai chúng ta
chia nhau. Khi cháu quay lại, ông nhớ kể cho cháu nghe
chuyện đội bóng đấy”.
“Đội Yankee không thể thua”.
“Nhưng cháu sợ đội Da Đỏ Cleveland”.
“Hãy tin vào đội Yankee, cháu à. Hãy tin tưởng ở Di
Maggio vĩ đại”.
“Cháu sợ cả đội Hổ Detroit lẫn đội Da Đỏ Cleveland”.
“Hãy coi chừng không khéo cháu lại sợ cả đội Đỏ
Cincinnati và đội White Sox của Chicago”.
“ông đọc đi rồi kể cho cháu lúc cháu quay lại”.
“Cháu có nghĩ chúng ta nên mua tờ vé số có số cuối là tám
mươi lăm không… Mai là ngày thứ tám mươi lăm”.
“Chúng ta có thể mua”, thằng bé nói.
“Nhưng thế còn con số cực kỳ kỷ lục của ông là tám mươi
bảy”.
“Không thể xảy ra lần thứ hai đâu. Cháu có chắc là cháu có
thể tìm được tờ vé số tám mươi lăm ấy chứ… ”
“Cháu có thể mua một chiếc”.
“Một chiếc. Hai đô la rưỡi đấy. Ai có thể cho chúng ta vay
món tiền ấy… ”
“Dễ thôi mà. Cháu luôn có khả năng vay hai đô rưỡi”.
“ông nghĩ có lẽ ông cũng có khả năng đó. Nhưng ông cố
không vay mượn. Thoạt tiên thì vay mượn. Rồi sau đó là ăn
mày”.
“Hãy giữ ấm ông ạ”, thằng bé nói.
“Chúng ta đã qua tháng chín”.
“Tháng này là mùa cá lớn”, ông lão nói.
“Vào tháng năm thì ai cũng có thể trở thành người đánh
cá”.
“Bây giờ cháu đi kiếm cá mòi đây”, thằng bé nói. Khi
thằng bé trở lại ông lão đã ngủ trên ghế, mặt trời đã lặn. Thằng
bé mang cái mền lính cũ trong giường ra trải lên phía sau ghế,
đắp qua vai ông lão. Đôi vai thật kỳ lạ, vẫn chắc nịch dẫu đã
rất già, cả cái cổ vẫn còn khỏe, những nếp nhăn mờ đi khi ông
lão ngủ gục đầu về phía trước. Chiếc sơ mi của ông được vá
nhiều lần đến nỗi trông nó cũng hệt như tấm buồm; mặt trời
làm mấy miếng vá ấy phai nhạt theo nhiều màu khác nhau.
Dẫu sao thì cái đầu ông lão cũng đã rất già và khi đôi mắt
nhắm lại thì khuôn mặt lão không còn sinh khí. Tờ báo nằm
vắt qua đầu gối lão, độ nặng của cánh tay giữ nó ở lại đó trong
làn gió nhẹ buổi tối. Lão đi chân trần. Thằng bé để lão ở đó và
khi nó quay lại ông lão vẫn còn ngủ.
“ông ơi, dậy đi”, thằng bé gọi và đặt tay lên đầu gối lão.
ông lão mở mắt, ngơ ngác một lúc rồi mới tỉnh hẳn. Rồi lão
mỉm cười.
“Cháu có cái gì đấy”, lão hỏi.
“Đồ ăn tối”, thằng bé nói.
“Chúng ta sẽ ăn tối”.
“ông không đói lắm đâu”.
“Thì cứ ăn vậy. ông không thể không ăn mà bắt cá được”.
“Vẫn cứ câu được”, ông lão nói lúc đứng dậy cầm tờ báo
gấp lại. Rồi lão chuẩn bị xếp mền.
“ông cứ quấn mền quanh người”, thằng bé nói.
“Trong lúc cháu còn sống thì ông không phải nhịn đói mà
đi câu cá”.
“Vậy thì hãy sống cho thật lâu và quan tâm đến bản thân
mình”, ông lão nói.
“Ta ăn gì vậy… ”.
“Đậu đen, cơm, chuối chiên và ít thịt hầm”. Thằng bé đựng
mấy món ấy trong chiếc cặp lồng hai ngăn, mang về từ
Terrace. Hai bộ dao nĩa, thìa được quấn bằng giấy ăn đút trong
túi nó.
“Ai cho cháu mấy món này… ”
“Bác Martin. Chủ quán”.
“ông phải cảm ơn bác ấy”.
“Cháu đã cảm ơn rồi”, thằng bé nói.
“ông không phải cảm ơn bác ấy nữa”.
“ông sẽ biếu bác ấy miếng thịt bụng của con cá lớn”, ông
lão nói.
“Bác ấy đã nhiều lần cho chúng ta như thế này phải
không… ”
“Cháu nghĩ thế”.
“Vậy thì ông phải biếu bác ấy cái gì quí hơn miếng thịt
bụng. Bác ấy rất tử tế với chúng ta”.
“Bác ấy gửi biếu hai chai bia”.
“ông thích bia lon nhất”.
“Cháu biết. Nhưng đây là bia Hatuey đóng chai, cháu sẽ
mang trả chai”.
“Cháu chu đáo quá”, ông lão nói.
“Ta ăn chứ… ”
“Thì cháu đã mời ông mãi, ” thằng bé dịu dàng nói.
“Cháu chưa muốn mở cặp lồng trước khi ông đã sẵn sàng”.
“ông sẽ sẵn sàng ngay”, ông lão nói.
“ông chỉ rửa sơ qua một tí”. ông rửa ở đâu nhỉ, thằng bé
nghĩ. “Món thịt hầm của cháu tuyệt lắm”, ông lão nói.
“Kể cho cháu nghe về trận bóng đi”, thằng bé giục lão.
“Như ông đã nói, trong Liên đoàn Mỹ, đấy là đội Yankee”,
ông lão hạnh phúc nói.
“Hôm nay họ thua rồi”, thằng bé nói với lão.
“Điều đó chẳng hề gì. Di Maggio vĩ đại vẫn cứ là Di
Maggio”.
“Họ có những cầu thủ khác trong đội”.
“Rõ rồi. Nhưng anh ta thì khác hẳn. Trong liên đoàn khác,
nếu giữa Brooklán và Philadelphia thì chắc ông chọn
Brooklán. ông còn nhớ đến cả Dick Sisler và những cú vụt
bóng lừng danh trên sân đấu trước đây nữa”.
“Không có ai sánh bằng đâu. Trong đời cháu mới chỉ thấy
anh ấy là người vụt bóng đi xa nhất”.
“Cháu có còn nhớ thuở anh ấy thường đến Terrace
không… ông muốn mời anh ấy đi câu cùng nhưng lại quá nhút
nhát để đưa ra lời đề nghị. Khi ông bảo cháu mời anh ấy thì
cháu lại cũng nhát gan”.
“Cháu biết. Đấy là một lỗi lầm tai hại. Chắc anh ấy sẽ đi
cùng chúng ta. Rồi chúng ta sẽ giữ kỷ niệm ấy trong suốt cả
cuộc đời”.
“ông cũng muốn đưa Di Maggio vĩ đại đi câu”, ông lão nói.
“Người ta bảo cha anh ấy là ngư dân. Có lẽ anh ấy cũng
nghèo như ta và sẽ thông cảm”.
“Cha của Siạler lừng danh thì chẳng nghèo tí nào, ông ta,
lúc vào độ tuổi của cháu, đã chơi cho Liên đoàn Big”.
“Khi bằng tuổi cháu, ông đã đứng trước cánh buồm, trên
con tàu được trang bị chu đáo đến châu Phi và ông đã nhìn
thấy sư tử trên bờ biển vào lúc chiều tối”.
“Cháu biết. ông đã kể cho cháu nghe rồi”.
“Ta nên nói chuyện về châu Phi hay về bóng chày… ”
“Cháu nghĩ là bóng chày”, thằng bé đáp.
“Kể cho cháu nghe về danh thủ John J. McGraw”. Nó nói
Jota thay vì chỉ phát âm chữ J.
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
Ernest Hemingway
www.dtv-ebook.com
Chương 2
“T hỉnh thoảng vào những ngày xa xưa ấy, anh ta thường
đến Terrace. Nhưng khi đã rượu vào thì anh ta nóng nảy, nói
năng nhát gừng và khó đăm đăm. Đầu óc anh ta dồn hết cả vào
ngựa và bóng chày. Lúc nào anh ta cũng giữ danh sách ngựa
trong túi áo rồi cứ xướng tên qua điện thoại”.
“T “ông ta là tay quản lý ra trò”, thằng bé nói.
“Cha cháu nghĩ ông ta là người vĩ đại nhất”.
“Bởi vì lúc nào anh ta cũng đến đây”, ông lão nói.
“Nếu hằng năm Durocher cứ đến đây thì chắc cha cháu sẽ
nghĩ anh ta là tay quản lý cừ khôi nhất”.
“Thật ra ai là ông bầu vĩ đại nhất, Luque hay Mike
Gonzalez… ”
“ông nghĩ hai người ngang nhau”.
“Còn người đánh cá tài ba nhất là ông”.
“Không. ông biết nhiều người giỏi hơn”.
“Que va”, thằng bé thốt lên.
“Có nhiều người đánh cá giỏi và vài người vĩ đại. Nhưng
ông là người duy nhất”.
“Cám ơn. Cháu làm ông hạnh phúc. ông hy vọng sẽ không
có con cá nào cùng vĩ đại như thế để chứng minh rằng ông
cháu ta sai”.
“Sẽ chẳng có con cá nào như thế nếu ông vẫn còn khỏe như
ông nói”.
“Có lẽ ông không được khỏe như ông nghĩ đâu”, ông lão
nói.
“Nhưng ông biết nhiều mẹo và có cách xử lý”.
“Giờ thì ông nên ngủ đi để sáng mai khỏe khoắn. Cháu
mang mấy thứ trả Terrace”.
“Vậy thì tạm biệt. Sáng mai ông sẽ đến đánh thức cháu”.
“ông là cái đồng hồ của cháu”, thằng bé nói.
“Tuổi tác là đồng hồ của ông”, ông lão nói.
“Tại sao người già lại thức giấc quá sớm… Phải chăng là
muốn có một ngày dài hơn… ”
“Cháu không biết”, thằng bé nói.
“Những gì cháu biết là người trẻ thì ngủ dậy muộn và khó”.
“ông nhớ”, ông lão nói.
“ông sẽ đánh thức cháu đúng giờ”.
“Cháu không thích ông ta đánh thức cháu. Việc đó như thể
cháu là kẻ bề dưới”.
“ông hiểu”.
“Chúc ông ngủ ngon”. Thằng bé đi ra. Họ ăn mò, không có
đèn trên bàn; ông lão cởi quần dài, đi ngủ trong bóng tối. Lão
quấn chiếc quần quanh tờ báo làm gối. Lão cuộn người trong
chăn, nằm lên những tờ báo cũ trải trên giát giường. Lão ngủ
ngay và mơ về châu Phi, khi lão hãy còn là một chú nhóc, với
những bờ biển cát vàng, cát trắng trải dài, trắng đến nỗi làm
mắt đau nhức, những mũi đất cao nhô ra biển, những ngọn núi
xám đồ sộ. Bây giờ hằng đêm lão về lại bờ biển ấy và trong
mơ lão nghe tiếng sóng gầm, lão thấy đoàn thuyền của người
bản địa đang trườn qua những con sóng. Khi ngủ, lão ngửi
thấy mùi nhựa đường, mùi gỗ sồi lát boong tàu; rồi lão ngửi
thấy hương vị châu Phi theo làn gió đất phả tới vào buổi sáng.
Thông thường khi ngửi thấy làn gió nội địa, lão thức dậy, mặc
đồ, đến đánh thức thằng bé. Nhưng đêm nay, gió nội địa đến
rất sớm và trong mơ lão biết hãy còn quá sớm nên lão tiếp tục
mơ để thấy những mỏm trắng xóa của những hòn đảo nhô trên
biển, lát sau lão mơ về những hải cảng khác, những vũng tàu
đậu khác của quần đảo Canará. Lão không còn mơ về bão,
không còn mơ về đàn bà, về những sự kiện trọng đại, những
con cá lớn, những trận đánh, những cuộc đấu sức hay vợ lão.
Bây giờ lão chỉ mơ về các vùng đất, về những con sư tử trên
bờ biển. Chúng nô đùa như những chú mèo con trong hoàng
hôn; lão yêu chúng như yêu thằng bé. Lão không bao giờ mơ
về thằng bé. Lão chợt thức giấc, nhìn ánh trăng bên ngoài cánh
cửa để ngỏ rồi giũ quần mặc vào. Lão tiểu bên lều rồi đi lên
đường đánh thức thằng bé. Lão rùng mình trong bầu không khí
lạnh ban mai. Nhưng lão biết lão sẽ còn run mãi cho đến lúc
tay chèo làm lão ấm lên. Cánh cửa ngôi nhà thằng bé sống
không khóa, lão mở rồi khẽ đưa đôi chân trần bước vào. Thằng
bé ngủ trên chiếc giường nhỏ ở phòng đầu tiên; và ông lão,
trong ánh trăng sắp lặn, có thể nhìn rõ nó. Lão nhẹ nhàng nắm
lấy một bàn chân, giữ cho đến khi thằng bé thức giấc, quay lại
nhìn lão. ông lão gật đầu, thằng bé lấy chiếc quần dài vắt trên
ghế cạnh giường, mặc vào khi còn ngồi trên giường. ông lão ra
cửa, thằng bé đi theo. Nó đang ngái ngủ, lão quàng tay qua vai
nó và nói, “ông xin lỗi”.
“Queva”, thằng bé nói.
“Đấy là việc mà một người đàn ông phải làm”. Họ xuống
đường đến lều ông lão và suốt dọc đường, trong bóng tối,
nhiều người đi chân trần, vác buồm ra thuyền. Khi hai người
đến lều ông lão, thằng bé xách cái xô đựng cuộn dây, cây lao,
cây sào móc; còn ông lão vác cột buồm với lá buồm đã quấn
lại.
“ông có muốn uống cà phê không… ”, thằng bé hỏi.
“Chúng ta để dụng cụ xuống thuyền rồi đi uống”. Họ uống
cà phê trong hộp đựng sữa đặc tại điểm phục vụ những người
đánh cá vào sáng sớm.
“ông ngủ có ngon không… ”, thằng bé hỏi. Giờ thì nó dần
tỉnh táo hơn như thể giấc ngủ hẵng cứ bám riết lấy nó.
“Rất ngon, Manolin à”, ông lão đáp.
“Hôm nay ông cảm thấy tự tin”.
“Cháu cũng thế”, thằng bé nói.
“Bây giờ cháu phải đi lấy cá mòi của ông cháu ta và số mồi
tươi của ông. Tự ông ấy mang dụng cụ. ông ấy chẳng hề muốn
bất kỳ ai mang bất cứ thứ gì”.
“Chúng ta thì khác”, ông lão nói.
“ông để cháu mang đồ nghề kể từ lúc cháu lên năm”.
“Cháu biết điều đó”, thằng bé nói.
“Cháu sẽ về ngay. ông cứ uống thêm tí nữa. Chúng ta có
thể uống chịu ở đây”. Nó đi chân không trên lớp san hô đến
nhà ướp lạnh nơi mồi được giữ ở đấy. ông lão chậm rãi uống
cà phê. Đấy là tất cả thực phẩm lão có cho một ngày và lão
biết lão nên uống. Đã từ lâu, ăn uống đối với lão trở nên chán
ngắt và lão không bao giờ mang theo bữa trưa. Lão có một
chai nước đằng mũi thuyền và đấy là tất cả lão cần trong một
ngày. Lúc này thằng bé đã quay lại, mấy con cá mòi và hai
miếng mồi câu được bọc trong tờ báo, hai người men theo lối
mòn đến thuyền, chân giẫm lên lớp cát pha sỏi, nâng con
thuyền đẩy xuống nước.
“Chúc ông may mắn”.
“Chúc cháu may mắn”, ông lão nói. Lão tra quai chèo vào
cọc, nghiêng người tới trước khua mạnh mái chèo xuống
nước; trong bóng tối, lão chèo ra khỏi bến. Có nhiều chiếc
thuyền từ các bãi khác ra khơi; ông lão nghe tiếng mái chèo
khua nước mặc dù lão không thể nhìn thấy họ bởi bây giờ mặt
trăng đã khuất sau rặng đồi. Thỉnh thoảng, có tiếng ai đó nói
trên thuyền. Nhưng hầu hết các thuyền đều im lặng trừ tiếng
mái chèo khua nước. Họ tỏa rộng sau khi ra khỏi cửa biển;
mỗi người đi đến phần đại dương nơi họ hy vọng tìm thấy cá.
ông lão biết mình sẽ đi thật xa, để lại mùi đất sau lưng, chèo
vào vùng hương tinh khôi của đại dương ban mai. Lão thấy
ánh lân quang của đám rong vùng Nhiệt lưu trong nước khi lão
chèo qua vùng biển mà ngư dân gọi là vùng Giếng lớn, bởi vì
độ sâu ở đấy bất thình lình tụt xuống đến bảy trăm sải nước;
họ hàng nhà cá đều dồn tất tại đó do xoYy nước dội thẳng vào
bờ vách dốc của đáy đại dương. ở đấy tập trung tôm, cá mòi và
thỉnh thoảng hàng đàn cá mực, sống trong những hố sâu nhất
ngoi lên gần mặt nước vào ban đêm để làm mồi cho những con
cá lang thang.
Trong bóng tối, ông lão có thể cảm nhận bình minh đang
đến và lúc chèo, lão nghe thấy những âm thanh run rẩy khi đàn
cá chuồn rời mặt nước và cả tiếng lao xao phát ra từ bộ cánh
cứng khi chúng lao xao trong bóng tối. Lão rất quý loài cá
chuồn bởi chúng là bạn gần gũi của lão trên đại dương. Lão
thương cho lũ chim, đặc biệt là loài nhạn đen nhỏ, mỏng manh
cứ bay và tìm kiếm mãi nhưng hầu như chẳng tìm thấy gì; lão
nghĩ loài chim sống khổ hơn ta trừ mấy cái giống chim kẻ
cướp và những loài to xác, kềnh càng. Tại sao tạo hóa lại sinh
ra cái giống chim quá xinh xẻo mỏng manh như loài nhạn biển
này trong khi đại dương lại có thể quá ư nghiệt ngã…
Đại dương tử tế và rất đẹp. Nhưng nó có thể rất độc ác và
tráo trở bất thình lình; còn loài chim kia thì phải bay, nhao
xuống săn mồi; và tiếng kêu thảng thốt, khẽ khàng của chúng
lại quá yếu ớt giữa trùng khơi. Lão luôn nghĩ về biển như
lamar, đấy là cách người ta gọi biển bằng tiếng Tây Ban Nha
khi họ yêu biển. Thỉnh thoảng những người yêu biển cũng
buông lời nguyền rủa biển nhưng họ luôn nói như thể biển là
phụ nữ. Vài tay đánh cá trẻ, sử dụng phao nhựa làm phao câu
và đi thuyền máy, sắm được khi gan cá mập được giá, gọi biển
là el mar, tức giống đực. Chúng nói về biển như một đối thủ,
một địa điểm hay thậm chí là một kẻ thù. Nhưng ông lão thì
luôn nghĩ về biển như về một phụ nữ, như cái gì đó có thể ban
phát hay chối giữ ơn huệ, và nếu biển làm điều ác độc hay tàn
bạo thì bởi lẽ lúc ấy biển không thể nào kìm giữ nổi. Mặt trăng
tỏa chiếu trên biển như thể tỏa chiếu trên cơ thể của người đàn
bà, lão nghĩ. Lão buông chèo nhịp nhàng, không phải mất
nhiều sức bởi lão làm chủ tốc độ của mình và bởi đại dương
bình lặng trừ đôi chỗ có dòng xoYy. Lão đang để dòng chảy
đỡ đi một phần ba công việc và khi trời vừa hửng sáng lão
thấy mình đã đi xa hơn quãng đường lão nghĩ vào thời điểm
ấy. Mình đã câu ở vùng Giếng lớn suốt cả tuần nay mà chẳng
bắt được mống nào hết, lão nghĩ. Hôm nay mình sẽ ra tận nơi
các đàn cá bonito và albacore kiếm ăn và có thể con cá lớn sẽ
quanh quẩn đâu đấy. Trước khi trời sáng rõ, lão buông mồi và
thả thuyền trôi theo dòng chảy. Một con mồi ở độ sâu bốn
mươi sải. Mồi thứ hai sâu tới bảy mươi lăm sải; mồi thứ ba và
thứ tư chìm sâu hút trong làn nước xanh đến độ sâu một trăm
và một trăm hai mươi lăm sải. Mỗi con mồi được móc ngược
đầu xuống, lưỡi câu giấu trong thân Tiếng Tây Ban Nha chỉ
một loài sứa. cá, buộc chặt, khâu kỹ và những phần thòi ra của
lưỡi câu, đoạn cong và mũi nhọn, thì được che bằng những
con cá mòi tươi rói. Chúng bị móc xuyên qua hai mắt tạo
thành nửa vòng hoa trên cuống thép. Không còn phần nào của
lưỡi câu để con cá lớn có thể nhận ra ngoại trừ hương vị thơm
lừng quyến rũ. Thằng bé cho ông lão hai con cá thu nhỏ tươi,
thuộc loài albacore; lão móc chúng vào hai lưỡi câu sâu nhất,
chúng nặng như thể mấy hòn chì; còn ở hai lưỡi kia, lão móc
một con nục sòng lớn, màu xanh và một con ngừ bạc đã được
sử dụng hôm trước; nhưng chúng vẫn còn tốt và xâu cá mòi
thơm phức giúp chúng tỏa hương hấp dẫn. Mỗi dây câu, lớn
bằng cây bút chì cỡ lớn, được buộc vào một cái phao bằng que
gỗ màu xanh lục để bất kỳ một cú kéo, một cú đớp nào vào
miếng mồi cũng khiến phao gỗ chìm xuống; mỗi dây câu còn
có hai cuộn dây dài bốn mươi sải dự phòng sẵn sàng nối với
các cuộn khác để khi cần thiết, con cá có thể có hơn ba trăm
sải dây. Bây giờ lão quan sát mũi của ba chiếc phao gỗ bên
mạn thuyền, chèo nhẹ để giữ cho mấy sợi dây thẳng đứng đến
độ sâu cần thiết của chúng. Trời đã sáng hẳn và chẳng mấy
nữa mặt trời sẽ mọc lên. Mặt trời nhô lên mặt biển, ông lão có
thể nhìn thấy những thuyền khác, chìm thấp trong nước, dàn
rộng qua dòng chảy, phía gần bờ. Khi mặt trời rực rỡ hơn, ánh
nắng chiếu xuống mặt nước và lát sau, lúc nó cao hẳn lên, mặt
biển phẳng lặng phản chiếu ánh nắng dội vào mắt lão làm đau
nhức; lão chèo mà không nhìn vào nó nữa. Lão nhìn xuống
nước, theo dõi mấy sợi dây được thả thẳng đứng xuống vùng
đen của đại dương. Lão giữ chúng thẳng hơn bất kỳ một ai
khác, để ở mỗi độ sâu trong vùng nước đen kia sẽ có một con
mồi đợi đúng ngay ở đấy, nơi lão muốn dành cho bất cứ con cá
nào bơi qua. Các tay câu khác thì để chúng trôi theo dòng chảy
và đôi khi chúng chỉ ở độ sâu sáu mươi thay vì một trăm sải
như họ m u ố n. Nhưng, lão nghĩ, mình giữ chúng chính xác.
Duy chỉ mình không còn may mắn nữa thôi. Nhưng biết đâu
được…
Có thể hôm nay. Mỗi ngày là một ngày mới. Gặp may thì
tốt hơn. Nhưng mình ưa sự chính xác. Để khi vận may đến thì
mình đã sẵn sàng. Bây giờ mặt trời đã mọc cao được hai tiếng
đồng hồ, nó không làm mắt lão đau nhiều khi nhìn về hướng
Đông nữa. Giờ đây, trong tầm mắt, chỉ còn lại ba bóng thuyền,
mạn lún sâu xuống nước và ở mãi tít phía trong bờ. Suốt cả
đời, bình minh làm buốt mắt ta, lão nghĩ. Nhưng chúng vẫn
còn tinh anh. Vào lúc chiều tối, ta có thể nhìn thẳng vào nó mà
không bị những đốm đen trong mắt. Buổi chiều, ánh nắng
mạnh hơn. Nhưng buổi sáng nó làm ta nhức nhối. Ngay khi đó
lão thấy một con hải bằng tung đôi cánh đen dài lượn trên bầu
trời trên đầu lão. Nó sà xuống nhanh, nghiêng cánh chao người
rồi bay vòng trở lại.
“Nó tóm được con gì rồi”, ông lão nói lớn.
“Nó không chỉ nhìn đâu”. Lão chèo chậm rãi, đều đặn tiến
về phía con chim đang lượn vòng. Lão không vội, lão cần giữ
cho những sợi dây thẳng đứng xuống. Nhưng lão hơi nhanh
hơn dòng nước một chút trong chừng mực lão vẫn câu đúng,
nếu lão không cố bám theo con chim thì lão sẽ không chèo
nhanh hơn cách lão thường câu. Con chim bay cao hơn, lại
lượn vòng, đôi cánh bất động. Rồi thình lình nó lao xuống, lão
thấy đàn cá chuồn tung mình lên khỏi mặt nước, tuyệt vọng
bay trên mặt biển.
“Dorado”, ông lão nói lớn.
“Cá dorado lớn”.
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
Ernest Hemingway
www.dtv-ebook.com
Chương 3
Lão dừng chèo, lôi ra sợi dây câu nhỏ đằng mũi thuyền.
Dây câu này có đáy thép và lưỡi câu cỡ trung bình, lão móc
mồi bằng một con mòi. Lão buông câu qua mạn thuyền rồi
buộc nó vào cái khoen đằng sau lái. Lão tiếp tục móc mồi lưỡi
câu khác rồi vẫn để nó cuộn như thế trong bóng mát mũi
thuyền. Lão quay lại chèo và trông chừng con chim có sải
cánh đen rộng bây giờ đang sà thấp xuống kiếm mồi trên mặt
nước. Khi lão quan sát, con chim lại nhào xuống, nghiêng
cánh liệng rồi đập loạn xạ, bất lực khi bám theo đàn cá chuồn.
ông lão có thể nhìn thấy mặt nước khẽ cuộn lên chỗ đàn cá
dorado lớn nhao người đuổi theo bầy cá chuồn đang lẩn trốn.
Đám cá dorado đang cắt xuyên vùng nước bên dưới đường bay
của đàn cá, lao hết tốc lực đợi đàn cá rơi xuống. Đàn cá
dorado lớn, lão nghĩ. Chúng dàn rộng ra, lũ cá chuồn có ít cơ
hội trốn thoát. Con chim cũng không có cơ hội. Đàn cá chuồn
quá lớn so với nó, vả lại chúng lao đi rất nhanh. Lão nhìn theo
đàn cá chuồn cứ phóng lên lặn xuống và những cú chao mình
vô ích của con chim. Đàn cá ấy đã rời xa ta, lão nghĩ. Chúng di
chuyển nhanh quá và xa quá. Nhưng chắc chắn ta sẽ tóm được
một chú đi lạc và có lẽ con cá lớn của ta hẳn quanh quẩn bên
chúng. Con cá lớn của ta hẳn đang ở đâu đó. Bây giờ những
đám mây trên đất liền đùn lên tựa những quả núi và bờ biển
chỉ còn là một vệt xanh dài với rặng đồi xanh thẫm đằng sau
nó. Giờ đây, mặt nước xanh thẫm, thẫm đến nỗi như ngả sang
màu tím. Khi nhìn xuống, lão thấy những vệt rêu đỏ trong làn
nước tối sẫm và bây giờ mặt trời lấp lánh những tia sáng kỳ lạ.
Lão dõi theo mấy sợi dây câu để thấy chúng chạy thẳng xuống
ngút khỏi tầm mắt trong đáy nước và lão hạnh phúc khi thấy
nhiều rêu biển, bởi đấy là dấu hiệu có cá. ánh sáng kỳ lạ của
mặt trời chiếu vào làn nước cho thấy giờ đây mặt trời Prev
Page 19 Next đã lên cao hơn, có nghĩa thời tiết thuận; cả hình
thù của những đám mây trên đất liền kia cũng báo hiệu điều
đó. Nhưng giờ thì con chim đã gần như khuất khỏi tầm mắt,
trên mặt nước chẳng còn gì nữa, ngoại trừ những vệt rong
Sargasạo vàng ệch, bạc màu dưới nắng trời và cái cơ thể nung
núc, đỏ tía, nhão nhớt, sặc sỡ đủ màu của một con sứa đang
lềnh bềnh bên mạn thuyền. Nó nghiêng mình rồi trở người lại
ngay ngắn. Nó háo hức trôi đi tựa cái bong bóng xà phòng,
kéo theo những sợi tua dài gần một mét màu đỏ tía chết chóc
ngầm trong nước.
L “Agua mala”, lão nói.
“Đồ điếm”. Từ nơi khẽ đưa mái chèo, lão nhìn xuống nước
và thấy những con cá nhỏ có cùng màu với đám sợi tua đang
bơi giữa chúng và cả dưới cái bóng nhỏ mà con sứa kia tạo ra
khi trôi đi. Lũ cá ấy có khả năng đề kháng với nọc độc sứa.
Nhưng con người thì không và có dạo mấy sợi ...
 





