Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Phep Tac Nguoi Con - Tien sinh Ly Duc Tu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:36' 07-03-2024
Dung lượng: 7.3 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:36' 07-03-2024
Dung lượng: 7.3 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Cuốn sách dạy con được yêu chuộng
nhất trong lịch sử Á Đông
Cuốn sách dạy con được yêu chuộng nhất trong lịch sử Á Đông
GIỚI THIỆU
H
iện nay, hầu hết các trường học ở Việt Nam đều đặt rất
trang trọng dòng chữ: “Tiên học lễ, hậu học văn". Câu này
thực ra có nguồn gốc từ lời giáo huấn của đức Khổng Tử
trong “Luận ngữ - Học nhi”:
“Con em ở nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường
bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà giữ chữ Tín, yêu khắp
mọi người mà gần gũi người nhân đức; làm được đến vậy rồi mà
còn dư sức thì hãy học văn”.
Bám sát lời dạy ấy mà tiên sinh Lý Dục Tú vào những năm
Khang Hy triều Thanh đã biên soạn nên tác phẩm “Đệ tử quy”
(Phép tắc người con), được mệnh danh là một trong ba kinh điển
giáo dục con em tốt nhất trong lịch sử Á Đông (cùng với “Tam tự
kinh” và “Thiên tự văn").
Tiên sinh Lý Dục Tú vì đã viết “Đệ tử quy” mà sau khi mất được
thờ ở Đền Tiên Hiền ở Giáng Châu Tây Sơn. Tên sách “Đệ tử quy”
là do Giả Tồn Nhân triều Thanh đặt, khi ông hiệu đính “Huấn
mông văn" của Lý Dục Tú. Mà “Huấn mông văn" lại là do Lý Dục
Tú cải biên từ sách “Đồng mông tu tri" của Chu Hy đời Tống mà ra.
Chu Hy thấy trường học khi đó “Giáo dục không có phương
pháp, thầy trò nhìn nhau, lạnh nhạt như người qua đường”, đạo
đức bại hoại, trọng lợi quên nghĩa, giáo dục chỉ để học sinh ứng
phó với thi cử. Chu Hy cho rằng đây là bỏ gốc lấy ngọn, ông chủ
trương dạy ngữ văn nên “lấy việc làm sáng tỏ nhân luân làm gốc”,
do đó đã biên soạn một loạt giáo trình ngữ văn, trong đó để dạy
trẻ em ông đã viết “Đồng mông tu tri”, dạy bảo hướng dẫn trẻ em
chi tiết trong đời sống thường ngày.
Kế tục nội hàm của “Đồng mông tu tri”, cốt lõi của “Đệ tử quy”
cũng là dạy bảo hướng dẫn trẻ em đạo đức luân lý và lễ tiết cơ
bản, quy phạm hành vi chính xác của trẻ em.
Căn cứ vào lời dạy của Khổng Tử, “Đệ tử quy” chia làm 7 đoạn
lớn là: “Ở nhà phải hiếu”, “Ra ngoài phải đễ”, “Cẩn thận”, “Thủ tín”,
“Yêu thương rộng khắp”, “Gần người nhân”, “Có dư sức thì học văn”.
Vỏn vẹn trong 1.080 chữ, nội dung dễ hiểu, vần điệu lưu loát, dễ
thuộc, “Đệ tử quy” giúp các em hình thành nhân cách trong sáng,
thiện lương, vun trồng đức hạnh, có thể giữ phẩm giá trong thời
buổi đạo đức suy thoái, dưỡng thành gia phong trung hậu, là nền
tảng quan trọng giúp các em gây dựng một tương lai thành công,
hạnh phúc.
Trên hành trình phục hưng văn hoá truyền thống, Đại Kỷ Nguyên
xin được kính cẩn giới thiệu trọn bộ giáo trình “Đệ tử quy" gồm
32 bài được biên soạn từ tài liệu giáo khoa văn hoá của mạng
Chánh Kiến (www.zhengjian.org), mỗi bài đều có bản dịch, diễn
giải, câu chuyện tham khảo và phần phụ chú, giúp các em và
cha mẹ, thầy cô tham khảo để hiểu hàm nghĩa sâu sắc nội dung
của kinh điển.
Chúng tôi thành tâm hy vọng rằng, cuốn sách quý này sẽ đồng
hành cùng mỗi gia đình trên con đường tìm về những giá trị đạo
đức truyền thống tốt đẹp, đạt tới nhân sinh hạnh phúc mỹ mãn.
BBT ĐẠI KỶ NGUYÊN
MỤC LỤC
5.
GIỚI THIỆU
11.
KINH VĂN
12.
30.
36.
RA NGOÀI PHẢI ĐỄ
(Xuất tắc đễ)
54.
Phép tắc người con - Bài 8:
Anh thương em
TỔNG QUAN (Tổng tự)
57.
Phép tắc người con - Bài 9:
Ăn uống, đi đứng
Phép tắc người con - Bài 1:
Phép người con
60.
Phép tắc người con - Bài 10:
Gặp trên đường
Ở NHÀ PHẢI HIẾU
(Nhập tắc hiếu)
63.
Phép tắc người con - Bài 11:
Trước người lớn
GIẢNG GIẢI
Phép tắc người con - Bài 2:
Cha mẹ gọi
CẨN THẬN (Cẩn)
39.
Phép tắc người con - Bài 3:
Đông ấm, hạ mát
68.
Phép tắc người con - Bài 12:
Sáng dậy sớm
42.
Phép tắc người con - Bài 4:
Việc nhỏ
71.
Phép tắc người con - Bài 13:
Mũ phải ngay
44.
Phép tắc người con - Bài 5:
Cha mẹ ghét
73.
Phép tắc người con - Bài 14:
Áo quý sạch
47.
Phép tắc người con - Bài 6:
Cha mẹ lỗi
76.
Phép tắc người con - Bài 15:
Đi thong thả
50.
Phép tắc người con - Bài 7:
Cha mẹ bệnh
79.
Phép tắc người con - Bài 16:
Vén rèm cửa
MỤC LỤC
83.
88.
91.
94.
99.
102.
105.
Phép tắc người con - Bài 17:
Sắp vào cửa
116.
Phép tắc người con - Bài 26:
Người có lỗi
THỦ TÍN (Tín)
119.
Phép tắc người con - Bài 27:
Nhận cho, phân biệt
Phép tắc người con - Bài 18:
Lời đã nói
122.
Phép tắc người con - Bài 28:
Với người dưới
Phép tắc người con - Bài 19:
Chưa thật chớ nói
Phép tắc người con - Bài 20:
Thấy người tốt
GẦN NGƯỜI NHÂN
(Thân nhân)
126.
Phép tắc người con - Bài 21:
Đức học tài nghệ
Phép tắc người con - Bài 29:
Cùng là người
CÓ DƯ SỨC THÌ HỌC VĂN
(Dư lực học văn)
Phép tắc người con - Bài 22:
Nghe lỗi giận
130.
Phép tắc người con - Bài 30:
Không thực hành
Phép tắc người con - Bài 23:
Lỗi vô ý
134.
Phép tắc người con - Bài 31:
Cách đọc sách
YÊU RỘNG KHẮP
(Phiếm ái chúng)
138.
Phép tắc người con - Bài 32:
Gian phòng sạch
110.
Phép tắc người con - Bài 24:
Phàm là người
113.
Phép tắc người con - Bài 25:
Mình có tài
11
ĐẠI KỶ NGUYÊN
12
Bản dịch tiếng Việt
PHÉP TẮC NGƯỜI CON
(弟子規 ĐỆ TỬ QUY)
- Lý Dục Tú -
TỔNG QUAN
(總敘 TỔNG TỰ)
(1)
Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, rồi cẩn tín
Yêu rộng khắp, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn.
Ở NHÀ PHẢI HIẾU
(入則孝 NHẬP TẮC HIẾU)
(2)
Cha mẹ gọi, trả lời ngay
Cha mẹ bảo, làm lập tức
Cha mẹ dạy, phải kính nghe
Cha mẹ trách, phải tiếp nhận.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
13
(3)
Đông phải ấm, hạ phải mát
Sáng phải thăm, tối phải viếng
Đi phải thưa, về phải trình
Sống quy củ, không thay đổi.
(4)
Việc tuy nhỏ, chớ tự làm
Nếu tự làm, thiếu đạo con
Vật tuy nhỏ, chớ cất riêng
Nếu cất riêng, cha mẹ buồn.
(5)
Cha mẹ thích, dốc lòng làm
Cha mẹ ghét, cẩn thận bỏ
Thân tổn thương, cha mẹ lo
Đức tổn thương, cha mẹ tủi
Cha mẹ thương, hiếu đâu khó
Cha mẹ ghét, hiếu mới hay.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
14
(6)
Cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi
Mặt ta vui, lời ta dịu
Khuyên không nghe, vui can tiếp
Dùng khóc khuyên, đánh không giận.
(7)
Cha mẹ bệnh, nếm thuốc trước
Ngày đêm hầu, không rời giường
Tang ba năm, thường thương nhớ
Cư xử đổi, không rượu thịt
Tang đủ lễ, cúng hết lòng
Thờ người chết, như còn sống.
RA NGOÀI PHẢI ĐỄ
(出則弟 XUẤT TẮC ĐỄ)
(8)
Anh thương em, em kính anh
Anh em thuận, hiếu trong đó
Nhẹ tiền bạc, oán nào sinh
Lời nhường nhịn, giận tự hết.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
15
(9)
Hoặc ăn uống, hoặc đi đứng
Người lớn trước, người nhỏ sau
Lớn gọi người, liền gọi thay
Người không có, mình làm thay
Gọi người lớn, chớ gọi tên
Với người lớn, chớ khoe tài.
(10)
Gặp trên đường, nhanh đến chào
Người không nói, lùi cung kính
Phải xuống ngựa, phải xuống xe
Đợi người đi, hơn trăm bước
Người lớn đứng, nhỏ chớ ngồi
Người lớn ngồi, cho phép ngồi.
(11)
Trước người lớn, phải nói nhỏ
Nhỏ khó nghe, không đúng phép
Đến phải nhanh, lui phải chậm
Khi hỏi đáp, mắt nhìn thẳng
Kính chú bác, như kính cha
Kính đàn anh, như anh ruột.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
16
CẨN THẬN
(謹 CẨN)
(12)
Sáng dậy sớm, tối ngủ trễ
Lúc chưa già, quý thời gian
Sáng rửa mặt, và đánh răng
Tiểu tiện xong, rửa tay sạch.
(13)
Mũ phải ngay, nút phải gài
Tất và giày, mang chỉnh tề
Mũ quần áo, để cố định
Chớ để bừa, tránh dơ bẩn.
(14)
Áo quý sạch, không quý đắt
Hợp thân phận, hợp gia đình
Với ăn uống, chớ kén chọn
Ăn vừa đủ, chớ quá no
Tuổi còn nhỏ, chớ uống rượu
Uống say rồi, rất là xấu.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
17
(15)
Đi thong thả, đứng ngay thẳng
Chào cúi sâu, lạy cung kính
Chớ đạp thềm, không nghiêng dựa
Chớ ngồi dang, không rung đùi.
(16)
Vén rèm cửa, chớ ra tiếng
Rẽ quẹo rộng, chớ đụng góc
Cầm vật rỗng, như vật đầy
Vào phòng trống, như có người
Chớ làm vội, vội sai nhiều
Không sợ khó, chớ qua loa
Nơi ồn náo, không đến gần
Việc tà tịch, quyết chớ hỏi.
(17)
Sắp vào cửa, hỏi có ai
Sắp vào nhà, cất tiếng lớn
Người hỏi ai, nên nói tên
Nói ta – tôi, không rõ ràng
Dùng đồ người, cần mượn rõ
Nếu không hỏi, tức là trộm
Mượn đồ người, trả đúng hẹn
Người hỏi mượn, chớ keo kiệt.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
18
THỦ TÍN
(信 TÍN )
(18)
Lời đã nói, tín làm đầu
Lời dối trá, sao nói được
Nói nhiều lời, không bằng ít
Phải nói thật, chớ xảo nịnh
Lời khắc bạc, từ bẩn dơ
Thói chợ búa, phải loại trừ.
(19)
Thấy chưa thật, chớ nói bừa
Biết chưa đúng, chớ tuyên truyền
Việc không tốt, chớ nhận bừa
Nếu nhận bừa, tiến lui sai
Phàm nói chuyện, nói từ tốn
Chớ nói nhanh, chớ mơ hồ
Kia nói phải, đây nói trái
Không liên quan, chớ quản chuyện.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
19
(20)
Thấy người tốt, nên sửa mình
Dù còn xa, cũng dần kịp
Thấy người xấu, tự kiểm điểm
Có thì sửa, không cảnh giác.
(21)
Chỉ đức học, chỉ tài nghệ
Không bằng người, phải tự gắng
Nếu quần áo, hoặc ăn uống
Không bằng người, không nên buồn.
(22)
Nghe lỗi giận, nghe khen vui
Bạn xấu đến, bạn hiền đi
Nghe khen sợ, nghe lỗi vui
Người hiền lương, dần gần gũi.
(23)
Lỗi vô ý, gọi là sai
Lỗi cố ý, gọi là tội
Biết sửa lỗi, không còn lỗi
Nếu che giấu, lỗi chồng thêm.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
20
YÊU RỘNG KHẮP
(汎愛眾 PHIẾM ÁI CHÚNG)
(24)
Phàm là người, đều yêu thương
Che cùng trời, ở cùng đất
Đức hạnh cao, danh tự cao
Mọi người trọng, không bề ngoài
Người tài lớn, danh tự lớn
Được người phục, chẳng do khoe.
(25)
Mình có tài, chớ dùng riêng
Người có tài, chớ nói xấu
Chớ nịnh giàu, chớ khinh nghèo
Chớ ghét cũ, chớ thích mới
Người không rảnh, chớ làm phiền
Người bất an, chớ quấy nhiễu.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
21
(26)
Người có lỗi, chớ vạch trần
Việc riêng người, chớ nói truyền
Khen người thiện, tức là thiện
Người biết được, càng gắng sức
Nói người xấu, chính là ác
Ác cùng cực, tai họa đến
Cùng khuyến thiện, cùng lập đức
Lỗi không khuyên, thiệt cả hai.
(27)
Hễ nhận cho, phân biệt rõ
Cho nên nhiều, nhận nên ít
Làm cho người, hỏi mình trước
Mình không thích, phải mau ngưng
Ân phải báo, oán phải quên
Báo oán ngắn, báo ân dài.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
22
(28)
Với người dưới, thân đoan chính
Tuy đoan chính, lòng độ lượng
Thế phục người, tâm không phục
Lý phục người, tâm mới phục.
GẦN NGƯỜI NHÂN
(親仁 THÂN NHÂN)
(29)
Cùng là người, tính tình khác
Thô tục nhiều, nhân từ ít.
Đúng người nhân, người kính sợ
Nói thẳng lời, không xu nịnh
Gần người nhân, tốt vô hạn
Đức ngày tăng, lỗi ngày giảm
Không gần nhân, hại vô cùng
Tiểu nhân đến, trăm việc hỏng.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
23
CÓ DƯ SỨC THÌ HỌC VĂN
(餘力學文 DƯ LỰC HỌC VĂN)
(30)
Không thực hành, chỉ học văn
Chỉ phù hoa, chẳng nên người
Chỉ thực hành, không học văn
Theo ý mình, mù lẽ phải.
(31)
Cách đọc sách, có ba điểm
Tâm mắt miệng, đều chú trọng
Đang đọc đây, chớ thích kia
Đây chưa xong, kia chớ đọc
Thời gian ít, cần chăm chỉ
Công phu đủ, đọc liền thông
Tâm có nghi, thì chép lại
Tìm người hỏi, cầu nghĩa đúng.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
24
(32)
Gian phòng sạch, vách tường sạch
Bàn học sạch, bút nghiên ngay
Mực mài nghiêng, tâm bất chính
Chữ không kính, tâm sinh bệnh
Xếp sách vở, chỗ cố định
Đọc xem xong, trả chỗ cũ
Tuy có gấp, xếp ngay ngắn
Có sai hư, liền tu bổ
Không sách Thánh, bỏ không xem
Che thông minh, hư tâm chí
Chớ tự chê, đừng tự bỏ
Thánh và Hiền, dần làm được.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
(Minh hoạ: Đại Kỷ Nguyên)
27
ĐẠI KỶ NGUYÊN
29
TỔNG QUAN
總敘
TỔNG TỰ
30
Phép tắc người con - Bài 1
Phép người con
(1)
Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, rồi cẩn tín
Yêu rộng khắp, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn.
Diễn giải:
“Phép tắc người con” (Đệ tử quy) là quy phạm đạo đức của cổ Thánh
tiên hiền dạy bảo hướng dẫn mọi người. Trong đó, điều then chốt
nhất là hiếu thuận với cha mẹ, kính nhường anh chị bạn bè, tiếp đến
là làm người, hành xử phải cẩn thận và thành tín.
Cần phải yêu thương tất cả mọi người trong thiên hạ, đồng thời
nên thường xuyên gần gũi với những người nhân đức để học tập họ.
Khi thực hiện những điều trên rồi mà vẫn còn dư thời gian, tinh thần
và sức lực thì mới có thể học các loại học vấn, văn hóa.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
31
Câu chuyện tham khảo:
Vua Thuấn Ông tổ của đạo đức
Vua Thuấn là một trong Ngũ Đế thời
thượng cổ, ông họ Diêu, tên là Trọng
Hoa, hiệu là Ngu Thị, sử sách gọi ông
là Ngu Thuấn.
Vua Thuấn. (Ảnh: wikimedia)
K
hi Thuấn còn rất nhỏ thì
mẹ qua đời, người cha là Cổ
Tẩu (nghĩa là Ông Mù) bị mù
hai mắt lấy vợ kế, sinh được người
em tên là Tượng. Cha của Thuấn là
người ngoan cố không đếm xỉa gì
đến nghĩa lý, cộng thêm mẹ kế tính
tình hung dữ thô bạo, em trai ngang
ngược. Mẹ kế và Tượng được Cổ Tẩu
sủng ái, 3 người đều ghét Thuấn,
thường xuyên nghĩ cách hạ sát ông.
Một lần, Cổ Tẩu gọi Thuấn sửa
kho thóc, đợi đến khi Thuấn leo lên
đỉnh kho, Cổ Tẩu liền châm lửa đốt
kho thóc. Thuấn cầm hai cái nón lá
như con chim nhỏ hạ xuống, Cổ Tẩu
không thể hại chết được ông.
Sau này, Cổ Tẩu lại bảo Thuấn đi
đào giếng. Khi Thuấn ở sâu trong
giếng, Cổ Tẩu và Tượng hợp sức lấp
đất vào giếng. Tượng vốn cho rằng
lần này không thể có sơ suất, sẽ độc
chiếm gia sản của Thuấn. Không ngờ
Thuấn rất thông minh, khi đào giếng
đã đào trước một đường thông ở bên
nên đã thoát được ra ngoài. Khi thấy
Thuấn trở về nhà, mọi người sợ hãi
lắm. Nhưng Thuấn khoan hồng độ
lượng vẫn dùng đức báo oán, vẫn
hiếu kính cha mẹ, yêu thương em
trai như cũ.
Người xưa nói: “Trăm nết hiếu
đứng đầu” (nguyên văn: Bách thiện
hiếu vi tiên). Năm 20 tuổi, Thuấn nổi
tiếng khắp thiên hạ bởi hiếu hạnh.
Năm Thuấn 30 tuổi, vua Nghiêu tìm
người hiền tài, quần thần khắp nơi
đều tiến cử Thuấn.
Vua Nghiêu đã gả con gái là Nga
Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn, đồng
thời cho 9 người con trai sống cùng
với Thuấn để quan sát phẩm đức của
Thuấn. Nga Hoàng, Nữ Anh đều được
đức hạnh của Thuấn cảm hoá, không
dám vì thân phận tôn quý mà có thái
độ kiêu căng ngạo mạn, đối xử với
ĐẠI KỶ NGUYÊN
32
Đức hiếu thuận của Thuấn làm cảm động cả trời cao.
(Ảnh minh hoạ: epochtimes.com)
mọi người đều vô cùng khiêm tốn
cung kính. 9 người con trai của vua
Nghiêu được Thuấn cảm hóa thấm
nhuần một cách vô tri vô giác, cũng
đã trở thành những người nhân hậu
cẩn thận.
Thuấn đến núi Lịch Sơn cày ruộng,
người vùng đó chịu ảnh hưởng của
Thuấn cũng trở nên tấm lòng rộng
mở, nhường đất làm địa giới ruộng.
Thuấn đến đầm Lôi Trạch bắt cá,
người Lôi Trạch tranh nhau nhường
nơi ở. Thuấn đến bên sông Hoàng Hà
làm gốm, đồ gốm ở đó làm ra đều trở
nên vô cùng tinh tế. Mọi người đều
thích sống cùng với Thuấn. Do đó,
những nơi mà ông ở thì chỉ một năm
trở thành thôn làng, 2 năm thành
thị trấn, 3 năm thành đô thị lớn. Trải
qua khảo sát, vua Nghiêu vô cùng hài
lòng, đã truyền ngôi vua cho Thuấn.
Vua Thuấn đặc biệt chú trọng giáo
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
dục đạo đức, ông tuyên dương giáo
dục ngũ thường: cha nhân nghĩa, mẹ
nhân từ, anh hiền từ, em cung kính,
con hiếu thuận (nguyên văn: phụ
nghĩa, mẫu từ, huynh hữu, đệ cung,
tử hiếu). Ông thúc đẩy đạo đức nhân
luân, khai sáng nền đạo đức truyền
thống các dân tộc Á Đông, trở thành
mẫu mực cho muôn đời sau.
Phụ chú
- Tam Hoàng Ngũ Đế: Thời viễn cổ,
vua Phục Hy, Thần Nông và Hoàng
Đế gọi là Tam Hoàng. Các vua Hoàng
Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường
Nghiêu, Ngu Thuấn gọi là Ngũ Đế.
Các văn hiến cổ ghi chép, Hoàng Đế
là một trong Tam Hoàng, cũng đứng
đầu Ngũ Đế.
33
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
弟 子 規 聖 人 訓
首 孝 弟 次 謹 信
汎 愛 眾 而 親 仁
有 餘 力 則 學 文
2. Âm Hán Việt:
Đệ tử quy, Thánh nhân huấn
Thủ hiếu đễ, thứ cẩn tín
Phiếm ái chúng, nhi thân nhân
Hữu dư lực, tắc học văn.
3. Pinyin Hán ngữ:
Dì zǐ guī, Shèng rén xùn
Shǒu xiào tì, cì jǐn xìn
Fàn ài zhòng, ér qīn rén
Yǒu yú lì, zé xué wén.
người có lòng nhân ái. Nhân
nghĩa là lòng nhân từ khoan
hậu, là đạo đức cơ bản yêu
người, yêu vật.
• Dư lực: tâm sức dư thừa.
• Tắc: thì, thì mới
• Học văn: nghiên cứu học vấn.
Khổng Tử nói “Hành hữu dư
lực, tắc dĩ học văn”, nghĩa là
thực hành các việc trên mà
còn dư tâm sức thì mới nghiên
cứu học vấn. Ông chủ trương
đức dục quan trọng hơn trí
dục, phải trước tiên gây dựng
nên phẩm đức tốt đẹp, vẫn còn
thời gian thì mới học tập các
học vấn khác.
4. Chú giải:
• Đệ tử: người con, người em,
con em
• Quy: quy phạm, phép tắc
• Thánh nhân: Bậc cổ Thánh
tiên hiền có phẩm đức cao
siêu, nhân cách hoàn mỹ.
• Huấn: Dạy bảo hướng dẫn
• Thủ: đầu, quan trọng hàng đầu
• Hiếu đễ: Hiếu thuận cha mẹ,
tôn kính anh chị. Chữ đễ 弟
còn viết là 悌, nghĩa là kính
trọng thuận theo anh chị.
• Thứ: quan trọng thứ nhì
• Cẩn tín: cẩn thận thận trọng,
thành thật giữ chữ tín.
• Phiếm ái chúng: Yêu thương
tất cả mọi người. Phiếm nghĩa
là rộng rãi.
• Nhi: mà lại, hơn nữa
• Thân nhân: thân cận gần gũi
ĐẠI KỶ NGUYÊN
35
Ở NHÀ PHẢI HIẾU
入則孝
NHẬP TẮC HIẾU
36
Phép tắc người con - Bài 2
Cha mẹ gọi
(2)
Cha mẹ gọi, trả lời ngay
Cha mẹ bảo, làm lập tức
Cha mẹ dạy, phải kính nghe
Cha mẹ trách, phải tiếp nhận.
Diễn giải:
Khi cha mẹ có việc gọi thì chúng ta phải trả lời ngay, không được
trì hoãn. Khi cha mẹ sai bảo làm việc thì chúng ta lập tức hành động,
không được lười nhác. Những đạo lý cha mẹ dạy bảo hướng dẫn thì
chúng ta phải cung kính lắng nghe, ghi nhớ trong tâm. Những lỗi
lầm mà cha mẹ trách mắng, uốn nắn thì chúng ta phải nghe theo,
tiếp nhận, thẳng thắn thừa nhận lỗi lầm, không được cãi lại, tranh
cãi, không được che giấu lỗi lầm.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
37
Câu chuyện tham khảo:
Chu Bạt ngỗ nghịch
với cha mẹ bị đọa
thành lừa
Chu Bạt là người huyện Bình Dương,
tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, từ nhỏ
đã là một tiểu Thần đồng, sách đã xem
qua là ghi nhớ, 7 tuổi đã biết ngâm thơ
làm văn. Năm 16 tuổi thơ văn Chu Bạt
đã nổi tiếng, được ca ngợi là 'tài tử
Bình Dương'. Bởi vì được mọi người
ca ngợi, được cha mẹ sủng ái, Chu Bạt
càng ngày càng cuồng vọng tự cao tự
đại, không coi ai ra gì. Cha mẹ, anh
em và hàng xóm của Chu Bạt thường
xuyên phải nhẫn chịu những cơn
nóng nảy tức giận của anh.
M
ột năm, Chu Bạt phải lên
kinh dự thi. Để lo lộ phí
cho Chu Bạt, cha mẹ anh đã
phải đôn đáo ngược xuôi vay mượn,
còn mời thợ may may cho anh bộ y
phục mới. Nhưng Chu Bạt không biết
đủ, chê lộ phí quá ít, chê y phục quá
rộng, chê quần quá dài, che mũ kiểu
dáng cũ kỹ, chê giày màu sắc quá
đậm. Bao vất vả khổ tâm của cha mẹ
lại được báo đáp bằng nỗi oán hận
của Chu Bạt.
Cha mẹ không nhẫn nhịn nổi đã
dạy bảo anh rằng: “Con à, con không
được chê cái này chê cái kia, con
phải biết vì con đi thi lần này, giúp
con lo lộ phí, may quần áo mới, cha
mẹ đã vắt óc suy nghĩ, khiến đầu đã
bạc hết cả rồi, mà con vẫn chưa biết
hài lòng như thế này, cha mẹ cũng
đã hết cách rồi”.
Những lời nói này của cha mẹ
cũng chẳng khiến Chu Bạt động
lòng, trái lại Chu Bạt gầm thét lớn
rằng: “Tôi là Văn Xương tinh ở trên
Trời hạ xuống phàm trần, là một đại
quý tử. Các người là ông bà già quê
mùa như bao cỏ kia, có tư cách làm
cha mẹ của tôi không?”.
Cha Chu Bạt bị làm cho tức giận
đến nỗi ngất ngay tại chỗ.
Đêm hôm đó, Chu Bạt bị bắt đến Âm
phủ. Diêm Vương nói với anh rằng:
“Ngươi thường ngày ngỗ nghịch với
cha mẹ, tuy có cái vỏ thân xác con
người nhưng lại là lòng dạ của súc
sinh, hạt giống súc sinh trong tâm địa
đã kết quả rồi, ngươi sẽ phải mất đi cái
thân người mà đọa thành súc sinh”.
Chu Bạt biện giải: “Con đối với
cha mẹ chỉ là đúng lý mà nói trực
ngôn, sao lại tính là ngỗ nghịch bất
hiếu được? Hơn nữa con là một tài
tử thông minh tuyệt đỉnh, sao có thể
ĐẠI KỶ NGUYÊN
38
biến thành súc sinh ngu ngốc được?
Lời nói của Ngài không khiến con
tín phục”.
Diêm Vương hiền từ giải thích:
“Ngươi đời này thông minh là do
đời trước có thiện hạnh. Nhưng đời
này những ác hạnh của ngươi như
bừa bãi cuồng vọng, ngạo mạn vô
lễ, nóng nảy, ngỗ nghịch… đã nuôi
dưỡng hạt giống súc sinh; hạt giống
thiện lương đời trước đã bị hủy
hoại hết rồi. Ngươi cuồng vọng đến
mức không coi ai ra gì, báo ứng của
ngươi sẽ là đọa xuống thành lừa, bị
mọi người bịt mắt kéo cối xay, chịu
roi vọt”.
Chu Bạt nghe xong cảm thấy rất có
đạo lý, tự biết mình sẽ bị ác báo khó
mà thoát được, kinh hoàng tỉnh dậy.
Hôm đó liền mắc bệnh hiểm nghèo,
mở miệng ra rất khó khăn, hai hàm
răng ngậm chặt lại, cổ họng phát ra
tiếng lừa kêu. Các danh y đều không
thể nào chẩn đoán ra bệnh gì, không
đến 2 ngày, Chu Bạt chết trong lúc kêu
thét như lừa.
(Nguồn: “Án thất đăng” đời Thanh)
Phụ chú
- Lừa kéo cối xay: Khi lừa kéo cối
xay, nếu nhìn thấy thức ăn trên cối
xay sẽ khiến nó muốn ăn mà dừng
lại, không chịu kéo cối xay nữa, do đó
phải bịt hai mắt nó lại.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
父 母 呼 應 勿 緩
父 母 命 行 勿 懶
父 母 教 須 敬 聽
父 母 責 須 順 承
2. Âm Hán Việt:
Phụ mẫu hô, ứng vật hoãn
Phụ mẫu mệnh, hành vật lãn
Phụ mẫu giáo, tu kính thính
Phụ mẫu trách, tu thuận thừa.
3. Pinyin Hán ngữ:
Fù mǔ hū,yìng wù huǎn
Fù mǔ mìng,xíng wù lǎn
Fù mǔ jiào,xū jìng tīng
Fù mǔ zé,xū shùn chéng.
4. Chú giải:
• Hô: gọi
• Ứng: trả lời, đáp lời
• Vật: không được, chớ, đừng
• Hoãn: chậm rãi, chậm chạp
• Mệnh: mệnh lệnh, sai bảo
• Hành: hành động, làm, thực
hiện
• Lãn: lười nhác, không nỗ lực
• Giáo: dạy bảo hướng dẫn, răn dạy
• Tu: phải
• Kính thính: cung kính lắng nghe
• Trách: Trách mắng, đòi hỏi
• Thuận thừa: tiếp thu, nghe theo.
39
Phép tắc người con - Bài 3
Đông ấm, hạ mát
(3)
Đông phải ấm, hạ phải mát
Sáng phải thăm, tối phải viếng
Đi phải thưa, về phải trình
Sống quy củ, không thay đổi.
Diễn giải:
Mùa đông cần ủ ấm chăn chiếu cho cha mẹ, mùa hè cần quạt mát
giường chiếu cho cha mẹ. Buổi sáng dậy phải hỏi thăm, vấn an cha
mẹ, buổi tối phải sửa soạn chăn màn giường chiếu cho cha mẹ.
Đi ra ngoài cần bẩm báo với cha mẹ, về nhà phải trình báo với cha
mẹ. Sinh hoạt ăn ở ngủ nghỉ phải có quy luật, trật tự thường nhật
không được tùy ý sửa đổi.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
40
Câu chuyện tham khảo:
Hiếu hạnh với
cha mẹ được biểu
dương lên Hoàng đế
Hoàng Hương là người Giang Hạ thời
Đông Hán. Khi Hoàng Hương 9 tuổi
thì mẹ cậu qua đời, cậu vô cùng nhớ
thương mẹ, người làng đều nói cậu
là một người con hiếu thảo.
H
oàng Hương làm việc rất
chăm chỉ cần cù chịu khó,
không sợ khổ, một lòng một
dạ hiếu kính với cha, nghĩ mọi cách
để cha được nghỉ ngơi, được thoải
mái dễ chịu.
Mùa hè nóng nực, muỗi nhiều,
Hoàng Hương biết cha sợ nóng,
thường không ngủ được, lại bị muỗi
đốt. Do đó, mỗi buổi tối trước khi cha
đi ngủ, Hoàng Hương đều dùng quạt
quạt mát giường chiếu, xua đuổi muỗi
đi rồi mới mời cha đi ngủ. Đến mùa
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
Hoàng Hương quạt mát giường chiều rồi mới
mời cha đi nghỉ.
đông, trời lạnh giá, Hoàng Hương sợ
cha bị giá rét nên đã nằm vào giường
trước ủ ấm chăn chiếu, sau đó mới
mời cha lên giường đi nghỉ.
Sau đó, hiếu hạnh của Hoàng
Hương truyền khắp kinh thành,
không ai là không biết. Thái thú
Giang Hạ nghe được chuyện này,
cảm thấy thật là hiếm có, ông bèn
dâng biểu lên Hoàng đế biểu dương
nết hiếu hạnh của Hoàng Hương.
Hoàng Hương còn nhỏ tuổi đã đọc
thuộc các kinh điển, học rộng văn
hay, văn chương của cậu nổi tiếng
cả kinh thành, mọi người đều khen
ngợi là: “Cậu bé Hoàng Hương, thiên
hạ vô song”.
(Nguồn: “Nhị thập tứ hiếu”)
41
Phụ chú
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
冬 則 溫 夏 則 凊
晨 則 省 昏 則 定
出 必 告 反 必 面
居 有 常 業 無 變
2. Âm Hán Việt:
Đông tắc ôn, hạ tắc sảnh
Thần tắc tỉnh, hôn tắc định
Xuất tất cáo, phản tất diện
Cư hữu thường, nghiệp vô biến.
3. Pinyin Hán ngữ:
Dōng zé wēn,xià zé qìng
Chén zé xǐng,hūn zé dìng
Chū bì gào,fǎn bì miàn
Jū yǒu cháng,yè wú biàn.
4. Chú giải:
• Sảnh: mát.
• Tỉnh: thăm viếng, hỏi thăm.
• Hôn: hoàng hôn, tối.
• Định: an định, ở đây nghĩa là
sắp xếp chuẩn bị giường chiếu.
• Tất: nhất định, phải.
• Phản: quay lại, trở về.
• Diện: gặp mặt, gặp, diện kiến.
• Cư: cư trú, chỉ lễ tiết sinh hoạt
thường nhật.
• Thường: cố định không thay đổi.
• Nghiệp: thứ tự, trình tự.
• Vô: chớ, không được.
Cậu bé Hoàng Hương hiếu hạnh với cha mẹ được biểu dương lên Hoàng đế.
(Ảnh minh hoạ trong bài từ NTD.com)
ĐẠI KỶ NGUYÊN
42
Phép tắc người con - Bài 4
Việc nhỏ
(4)
Việc tuy nhỏ, chớ tự làm
Nếu tự làm, thiếu đạo con
Vật tuy nhỏ, chớ cất riêng
Nếu cất riêng, cha mẹ buồn.
Diễn giải:
Sự việc tuy nhỏ mọn cũng không thể chưa bẩm báo rõ với cha mẹ
mà đã tự tiện quyết định làm. Nếu cứ làm tùy theo ý mình là thiếu
bổn phận của người làm con. Đồ vật tuy bé nhỏ cũng không được cất
giữ riêng. Nếu chiếm làm của riêng sẽ khiến cha mẹ cảm thấy tủi hổ,
đau lòng.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
43
Câu chuyện tham khảo:
Mẹ Đào Khản
trả vại cá trách
mắng con
Phụ chú
Đào Khản là danh tướng của Đông
Tấn, cha mất sớm, thuở nhỏ gia cảnh
nghèo khó. Mẹ Đào Khản là Trạm Thị
dệt vải để cho con ăn học, bà rất coi
trọng việc tu dưỡng phẩm đức của
Đào Khản.
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
事 雖 小 勿 擅 為
苟 擅 為 子 道 虧
物 雖 小 勿 私 藏
苟 私 藏 親 心 傷
K
2. Âm Hán Việt:
Sự tuy tiểu, vật thiện vi
Cẩu thiện vi, tử đạo khuy
Vật tuy tiểu, vật tư tàng
Cẩu tư tàng, thân tâm thương.
hi còn trẻ, Đào Khản làm
huyện lại huyện Tầm Dương
tỉnh Giang Tây, giám sát quản
lý việc đánh bắt cá. Ông sai người
tặng mẹ một vại cá khô muối, mẹ ông
để nguyên vại cá trả lại, đồng thời
viết thư trách mắng ông: “Con làm
quan lại huyện phủ, lấy của công để
tặng mẹ, cho rằng mẹ sẽ vui mừng
sao? Như thế là làm tăng thêm nỗi lo
lắng của mẹ đó”.
Từ đó, những nơi mà Đào Khản
đến, ông đều được người dân ca
ngợi bởi sự liêm khiết, trong sạch
và tận tâm làm hết trách nhiệm.
Sau này, ông làm Chinh Tây đại
tướng quân, được phong làm Quận
công Trường Sa.
3. Pinyin Hán ngữ:
Shì suī xiǎo,wù shàn wéi
Gǒu shàn wéi,zǐ dào kuī
Wù suī xiǎo,wù sī cáng
Gǒu sī cáng,qīn xīn shāng.
4. Chú giải:
• Thiện: tự ý chủ trương, làm tùy
tiện theo ý mình.
• Cẩu: nếu, nếu như.
• Tử đạo: đạo làm con. Đạo ở đây
nghĩa là đạo lý, phép tắc.
• Khuy: tổn hao, thiếu, khiếm
khuyết.
• Tư tàng: cất giữ riêng, chiếm
làm của riêng.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
44
Phép tắc người con - Bài 5
Cha mẹ ghét
(5)
Cha mẹ thích, dốc lòng làm
Cha mẹ ghét, cẩn thận bỏ
Thân tổn thương, cha mẹ lo
Đức tổn thương, cha mẹ tủi
Cha mẹ thương, hiếu đâu khó
Cha mẹ ghét, hiếu mới hay.
Diễn giải:
Những sự vật hoặc hành vi mà cha mẹ yêu thích, là người làm con
vì cha mẹ thì phải dốc hết sức làm được. Những sự vật hoặc hành
vi mà cha mẹ không thích, là người làm con vì cha mẹ thì phải cẩn
thận bài trừ, cẩn thận sửa chữa quy chính.
Thân thể người con bị thương sẽ làm cho cha mẹ buồn rầu lo lắng.
Phẩm đức người con bị tổn hao sẽ khiến cha mẹ tủi nhục.
Cha mẹ yêu thương mình, mình hiếu thuận với cha mẹ thì có gì là
khó? Cha mẹ ghét bỏ mình, mình vẫn hiếu thuận với cha mẹ, đó mới
là người hiền có phẩm đức cao thượng thực sự.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
45
Câu chuyện tham khảo:
Mẫn Tử Khiên
mặc áo hoa lau
hiếu thuận với mẹ
Mẫn Tổn tên tự là Tử Khiên, người
nước Lỗ thời Xuân Thu (triều nhà
Chu), là đệ tử của Khổng Tử. Đức
hạnh Tử Khiên nổi tiếng sánh vai
với Nhan Uyên, ông cũng là một
trong 24 tấm gương hiếu hạnh.
Tử Khiên. Mùa đông giá rét, cha Tử
Khiên bảo cậu giúp ông đánh xe,
Tử Khiên bị rét cứng tay chân, cầm
không nổi dây cương, mấy lần đánh
rơi dây cương. Bị cha trách mắng,
cậu vẫn không biện hộ giải thích.
Sau đó, cha cậu thấy cậu bị lạnh
đến mức mặt xanh xám tái nhợt.
Ông sờ lên áo rét của cậu mới phát
hiện ra áo rất mỏng. Ông xé áo ra
xem mới biết không phải là áo bông,
mà áo rét của hai người con của mẹ
kế lại toàn là bông tinh chất. Cha
ông cảm thấy vô cùng đau buồn,
quyết định bỏ vợ.
Tử Khiên khóc như mưa khuyên
cha: “Mẹ còn thì chỉ một người con
bị lạnh, mẹ đi thì cả 3 người con côi
cút”. Mẹ kế nghe thấy vô cùng cảm
động, cuối cùng hối cải, đối đãi với
cả 3 người con như một người mẹ
hiền từ. Danh tiếng người con hiếu
hạnh của Mẫn Tử Khiên cũng từ đó
mà lan truyền khắp thiên hạ.
Mẫn Tử Khiên kéo xe giúp cha.
(Ảnh minh hoạ: epochtimes.com)
K
hi còn nhỏ, Mẫn Tử Khiên đã
mồ côi mẹ, cha tái hôn, mẹ
kế sinh được hai em trai. Tử
Khiên vô cùng hiếu thuận với cha
mẹ, nhưng mẹ kế lại rất ghét cậu.
Bà dùng bông làm áo rét cho hai con
đẻ, và dùng hoa lau làm áo rét cho
Mẫn Tử Khiên khuyên cha bỏ qua cho người
mẹ kế. (Ảnh: sohu.com)
ĐẠI KỶ NGUYÊN
46
Phụ chú
24 tấm gương hiếu hạnh (Nhị thập
tứ hiếu):
Quách Cư Kính là một người con
hiếu hạnh nổi tiếng triều Nguyên.
Ông cảm thán rằng không còn cơ hội
để hiếu thuận với cha mẹ đã mất, bèn
lựa chọn những câu chuyện của 24
người con hiếu hạnh tiêu biểu nhất
được lưu truyền trong các sách cổ,
biên soạn thành sách “Nhị thập tứ
hiếu” (24 tấm gương hiếu hạnh), gồm
có: Ngu Thuấn, Hán Văn Đế, Tăng Sâm
triều Chu, Mẫn Tổn triều Chu, Tử Lộ
triều Chu, Đổng Vĩnh triều Hán, Đàm
Tử triều Chu, Giang Cách triều Hậu
Hán, Lục Tích triều Hậu Hán, Đường
Phu Nhân triều Đường, Ngô Mãnh
triều Tấn, Vương Tường triều Tấn,
Quách Cự triều Hán, Dương Hương
triều Tấn, Chu Thọ Xương triều Tống,
Canh Kiền Lâu triều Nam Tề, Lão Lai
Tử triều Chu, Thái Thuận triều Hán,
Hoàng Hương triều Hán, Khương Thi
triều Hán, Vương Bầu nước Ngụy thời
Tam Quốc, Đinh Lan triều Hán, Mạnh
Tông thời Tam Quốc, Hoàng Đình Kiên
triều Tống.
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
親 所 好 力 為 具
親 所 惡 謹 為 去
身 有 傷 貽 親 憂
德 有 傷 貽 親 羞
親 愛 我 孝 何 難
親 憎 我 孝 方 賢
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
2. Âm Hán Việt:
Thân sở hiếu, lực vị cụ
Thân sở ố, cẩn vị khứ
Thân hữu thương, di thân ưu
Đức hữu thương, di thân tu
Thân ái ngã, hiếu hà nan
Thân tăng ngã, hiếu phương hiền.
3. Pinyin Hán ngữ:
Qīn suǒ hào,lì wèi jù
Qīn suǒ wù,jǐn wèi qù
Shēn yǒu shāng,yí qīn yōu
Dé yǒu shāng,yí qīn xiū
Qīn ài wǒ,xiào hé nán
Qīn zēng wǒ,xiào fāng xián.
4. Chú giải:
• Thân: cha mẹ, phụ thân và mẫu
thân
• Hiếu: thích
• Lực: dốc sức, hết sức
• Cụ: đủ, chuẩn bị đủ
• Ố: ghét
• Cẩn: cẩn thận
• Khứ: trừ bỏ
• Di: để lại, lưu lại
• Ưu: lo lắng ưu sầu
• Tu: xấu hổ, hổ thẹn, mất mặt,
mất thể diện
• Hà nan: có gì khó đâu? Hà có
nghĩa là vì sao, sao
• Tăng: ghét
• Phương: mới, thì mới
• Hiền: hiền lương, phẩm đức
cao thượng.
47
Phép tắc người con - Bài 6
Cha mẹ lỗi
(6)
Cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi
Mặt ta vui, lời ta dịu
Khuyên không nghe, vui can tiếp
Dùng khóc khuyên, đánh không giận.
Diễn giải:
Cha mẹ có lỗi lầm thì phải cố gắng khuyên can để cha mẹ sửa
chữa, quy chính, bản thân mình cần phải có vẻ mặt hòa nhã vui vẻ,
nói năng dịu dàng. Cha mẹ không nghe lời khuyên can thì phải đợi
đến khi cha mẹ vui rồi khuyên can tiếp, nếu vẫn chưa được thì khóc
lóc cầu xin, cho dù bị cha mẹ đánh cũng không hề có một lời oán hận.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
48
(Ảnh minh hoạ: NTD.com)
Câu chuyện tham khảo:
Tú Trinh khuyên
mẹ cứu em gái
Vào thời nhà Minh, mẹ của Dương
Tú Trinh sinh liền 3 người con gái,
không có con trai. Sinh người con
thứ 4 cũng vẫn là gái. Bà tức giận
lắm, muốn dìm chết đứa trẻ sơ sinh.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
K
hi đó Dương Tú Trinh 13 tuổi,
cô vội vàng chạy đến ôm lấy
em gái rồi quỳ xuống cầu xin
mẹ: “Mẹ à, vì con trai mà sát hại con
gái thì càng không thể có được con
trai đâu. Nếu mẹ phiền não vì phải lo
của hồi môn sau này thì hãy lấy con
làm của hồi môn cho em gái này”.
Bà nội chửi cô không hiểu sự đời,
Tú Trinh...
nhất trong lịch sử Á Đông
Cuốn sách dạy con được yêu chuộng nhất trong lịch sử Á Đông
GIỚI THIỆU
H
iện nay, hầu hết các trường học ở Việt Nam đều đặt rất
trang trọng dòng chữ: “Tiên học lễ, hậu học văn". Câu này
thực ra có nguồn gốc từ lời giáo huấn của đức Khổng Tử
trong “Luận ngữ - Học nhi”:
“Con em ở nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường
bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà giữ chữ Tín, yêu khắp
mọi người mà gần gũi người nhân đức; làm được đến vậy rồi mà
còn dư sức thì hãy học văn”.
Bám sát lời dạy ấy mà tiên sinh Lý Dục Tú vào những năm
Khang Hy triều Thanh đã biên soạn nên tác phẩm “Đệ tử quy”
(Phép tắc người con), được mệnh danh là một trong ba kinh điển
giáo dục con em tốt nhất trong lịch sử Á Đông (cùng với “Tam tự
kinh” và “Thiên tự văn").
Tiên sinh Lý Dục Tú vì đã viết “Đệ tử quy” mà sau khi mất được
thờ ở Đền Tiên Hiền ở Giáng Châu Tây Sơn. Tên sách “Đệ tử quy”
là do Giả Tồn Nhân triều Thanh đặt, khi ông hiệu đính “Huấn
mông văn" của Lý Dục Tú. Mà “Huấn mông văn" lại là do Lý Dục
Tú cải biên từ sách “Đồng mông tu tri" của Chu Hy đời Tống mà ra.
Chu Hy thấy trường học khi đó “Giáo dục không có phương
pháp, thầy trò nhìn nhau, lạnh nhạt như người qua đường”, đạo
đức bại hoại, trọng lợi quên nghĩa, giáo dục chỉ để học sinh ứng
phó với thi cử. Chu Hy cho rằng đây là bỏ gốc lấy ngọn, ông chủ
trương dạy ngữ văn nên “lấy việc làm sáng tỏ nhân luân làm gốc”,
do đó đã biên soạn một loạt giáo trình ngữ văn, trong đó để dạy
trẻ em ông đã viết “Đồng mông tu tri”, dạy bảo hướng dẫn trẻ em
chi tiết trong đời sống thường ngày.
Kế tục nội hàm của “Đồng mông tu tri”, cốt lõi của “Đệ tử quy”
cũng là dạy bảo hướng dẫn trẻ em đạo đức luân lý và lễ tiết cơ
bản, quy phạm hành vi chính xác của trẻ em.
Căn cứ vào lời dạy của Khổng Tử, “Đệ tử quy” chia làm 7 đoạn
lớn là: “Ở nhà phải hiếu”, “Ra ngoài phải đễ”, “Cẩn thận”, “Thủ tín”,
“Yêu thương rộng khắp”, “Gần người nhân”, “Có dư sức thì học văn”.
Vỏn vẹn trong 1.080 chữ, nội dung dễ hiểu, vần điệu lưu loát, dễ
thuộc, “Đệ tử quy” giúp các em hình thành nhân cách trong sáng,
thiện lương, vun trồng đức hạnh, có thể giữ phẩm giá trong thời
buổi đạo đức suy thoái, dưỡng thành gia phong trung hậu, là nền
tảng quan trọng giúp các em gây dựng một tương lai thành công,
hạnh phúc.
Trên hành trình phục hưng văn hoá truyền thống, Đại Kỷ Nguyên
xin được kính cẩn giới thiệu trọn bộ giáo trình “Đệ tử quy" gồm
32 bài được biên soạn từ tài liệu giáo khoa văn hoá của mạng
Chánh Kiến (www.zhengjian.org), mỗi bài đều có bản dịch, diễn
giải, câu chuyện tham khảo và phần phụ chú, giúp các em và
cha mẹ, thầy cô tham khảo để hiểu hàm nghĩa sâu sắc nội dung
của kinh điển.
Chúng tôi thành tâm hy vọng rằng, cuốn sách quý này sẽ đồng
hành cùng mỗi gia đình trên con đường tìm về những giá trị đạo
đức truyền thống tốt đẹp, đạt tới nhân sinh hạnh phúc mỹ mãn.
BBT ĐẠI KỶ NGUYÊN
MỤC LỤC
5.
GIỚI THIỆU
11.
KINH VĂN
12.
30.
36.
RA NGOÀI PHẢI ĐỄ
(Xuất tắc đễ)
54.
Phép tắc người con - Bài 8:
Anh thương em
TỔNG QUAN (Tổng tự)
57.
Phép tắc người con - Bài 9:
Ăn uống, đi đứng
Phép tắc người con - Bài 1:
Phép người con
60.
Phép tắc người con - Bài 10:
Gặp trên đường
Ở NHÀ PHẢI HIẾU
(Nhập tắc hiếu)
63.
Phép tắc người con - Bài 11:
Trước người lớn
GIẢNG GIẢI
Phép tắc người con - Bài 2:
Cha mẹ gọi
CẨN THẬN (Cẩn)
39.
Phép tắc người con - Bài 3:
Đông ấm, hạ mát
68.
Phép tắc người con - Bài 12:
Sáng dậy sớm
42.
Phép tắc người con - Bài 4:
Việc nhỏ
71.
Phép tắc người con - Bài 13:
Mũ phải ngay
44.
Phép tắc người con - Bài 5:
Cha mẹ ghét
73.
Phép tắc người con - Bài 14:
Áo quý sạch
47.
Phép tắc người con - Bài 6:
Cha mẹ lỗi
76.
Phép tắc người con - Bài 15:
Đi thong thả
50.
Phép tắc người con - Bài 7:
Cha mẹ bệnh
79.
Phép tắc người con - Bài 16:
Vén rèm cửa
MỤC LỤC
83.
88.
91.
94.
99.
102.
105.
Phép tắc người con - Bài 17:
Sắp vào cửa
116.
Phép tắc người con - Bài 26:
Người có lỗi
THỦ TÍN (Tín)
119.
Phép tắc người con - Bài 27:
Nhận cho, phân biệt
Phép tắc người con - Bài 18:
Lời đã nói
122.
Phép tắc người con - Bài 28:
Với người dưới
Phép tắc người con - Bài 19:
Chưa thật chớ nói
Phép tắc người con - Bài 20:
Thấy người tốt
GẦN NGƯỜI NHÂN
(Thân nhân)
126.
Phép tắc người con - Bài 21:
Đức học tài nghệ
Phép tắc người con - Bài 29:
Cùng là người
CÓ DƯ SỨC THÌ HỌC VĂN
(Dư lực học văn)
Phép tắc người con - Bài 22:
Nghe lỗi giận
130.
Phép tắc người con - Bài 30:
Không thực hành
Phép tắc người con - Bài 23:
Lỗi vô ý
134.
Phép tắc người con - Bài 31:
Cách đọc sách
YÊU RỘNG KHẮP
(Phiếm ái chúng)
138.
Phép tắc người con - Bài 32:
Gian phòng sạch
110.
Phép tắc người con - Bài 24:
Phàm là người
113.
Phép tắc người con - Bài 25:
Mình có tài
11
ĐẠI KỶ NGUYÊN
12
Bản dịch tiếng Việt
PHÉP TẮC NGƯỜI CON
(弟子規 ĐỆ TỬ QUY)
- Lý Dục Tú -
TỔNG QUAN
(總敘 TỔNG TỰ)
(1)
Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, rồi cẩn tín
Yêu rộng khắp, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn.
Ở NHÀ PHẢI HIẾU
(入則孝 NHẬP TẮC HIẾU)
(2)
Cha mẹ gọi, trả lời ngay
Cha mẹ bảo, làm lập tức
Cha mẹ dạy, phải kính nghe
Cha mẹ trách, phải tiếp nhận.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
13
(3)
Đông phải ấm, hạ phải mát
Sáng phải thăm, tối phải viếng
Đi phải thưa, về phải trình
Sống quy củ, không thay đổi.
(4)
Việc tuy nhỏ, chớ tự làm
Nếu tự làm, thiếu đạo con
Vật tuy nhỏ, chớ cất riêng
Nếu cất riêng, cha mẹ buồn.
(5)
Cha mẹ thích, dốc lòng làm
Cha mẹ ghét, cẩn thận bỏ
Thân tổn thương, cha mẹ lo
Đức tổn thương, cha mẹ tủi
Cha mẹ thương, hiếu đâu khó
Cha mẹ ghét, hiếu mới hay.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
14
(6)
Cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi
Mặt ta vui, lời ta dịu
Khuyên không nghe, vui can tiếp
Dùng khóc khuyên, đánh không giận.
(7)
Cha mẹ bệnh, nếm thuốc trước
Ngày đêm hầu, không rời giường
Tang ba năm, thường thương nhớ
Cư xử đổi, không rượu thịt
Tang đủ lễ, cúng hết lòng
Thờ người chết, như còn sống.
RA NGOÀI PHẢI ĐỄ
(出則弟 XUẤT TẮC ĐỄ)
(8)
Anh thương em, em kính anh
Anh em thuận, hiếu trong đó
Nhẹ tiền bạc, oán nào sinh
Lời nhường nhịn, giận tự hết.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
15
(9)
Hoặc ăn uống, hoặc đi đứng
Người lớn trước, người nhỏ sau
Lớn gọi người, liền gọi thay
Người không có, mình làm thay
Gọi người lớn, chớ gọi tên
Với người lớn, chớ khoe tài.
(10)
Gặp trên đường, nhanh đến chào
Người không nói, lùi cung kính
Phải xuống ngựa, phải xuống xe
Đợi người đi, hơn trăm bước
Người lớn đứng, nhỏ chớ ngồi
Người lớn ngồi, cho phép ngồi.
(11)
Trước người lớn, phải nói nhỏ
Nhỏ khó nghe, không đúng phép
Đến phải nhanh, lui phải chậm
Khi hỏi đáp, mắt nhìn thẳng
Kính chú bác, như kính cha
Kính đàn anh, như anh ruột.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
16
CẨN THẬN
(謹 CẨN)
(12)
Sáng dậy sớm, tối ngủ trễ
Lúc chưa già, quý thời gian
Sáng rửa mặt, và đánh răng
Tiểu tiện xong, rửa tay sạch.
(13)
Mũ phải ngay, nút phải gài
Tất và giày, mang chỉnh tề
Mũ quần áo, để cố định
Chớ để bừa, tránh dơ bẩn.
(14)
Áo quý sạch, không quý đắt
Hợp thân phận, hợp gia đình
Với ăn uống, chớ kén chọn
Ăn vừa đủ, chớ quá no
Tuổi còn nhỏ, chớ uống rượu
Uống say rồi, rất là xấu.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
17
(15)
Đi thong thả, đứng ngay thẳng
Chào cúi sâu, lạy cung kính
Chớ đạp thềm, không nghiêng dựa
Chớ ngồi dang, không rung đùi.
(16)
Vén rèm cửa, chớ ra tiếng
Rẽ quẹo rộng, chớ đụng góc
Cầm vật rỗng, như vật đầy
Vào phòng trống, như có người
Chớ làm vội, vội sai nhiều
Không sợ khó, chớ qua loa
Nơi ồn náo, không đến gần
Việc tà tịch, quyết chớ hỏi.
(17)
Sắp vào cửa, hỏi có ai
Sắp vào nhà, cất tiếng lớn
Người hỏi ai, nên nói tên
Nói ta – tôi, không rõ ràng
Dùng đồ người, cần mượn rõ
Nếu không hỏi, tức là trộm
Mượn đồ người, trả đúng hẹn
Người hỏi mượn, chớ keo kiệt.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
18
THỦ TÍN
(信 TÍN )
(18)
Lời đã nói, tín làm đầu
Lời dối trá, sao nói được
Nói nhiều lời, không bằng ít
Phải nói thật, chớ xảo nịnh
Lời khắc bạc, từ bẩn dơ
Thói chợ búa, phải loại trừ.
(19)
Thấy chưa thật, chớ nói bừa
Biết chưa đúng, chớ tuyên truyền
Việc không tốt, chớ nhận bừa
Nếu nhận bừa, tiến lui sai
Phàm nói chuyện, nói từ tốn
Chớ nói nhanh, chớ mơ hồ
Kia nói phải, đây nói trái
Không liên quan, chớ quản chuyện.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
19
(20)
Thấy người tốt, nên sửa mình
Dù còn xa, cũng dần kịp
Thấy người xấu, tự kiểm điểm
Có thì sửa, không cảnh giác.
(21)
Chỉ đức học, chỉ tài nghệ
Không bằng người, phải tự gắng
Nếu quần áo, hoặc ăn uống
Không bằng người, không nên buồn.
(22)
Nghe lỗi giận, nghe khen vui
Bạn xấu đến, bạn hiền đi
Nghe khen sợ, nghe lỗi vui
Người hiền lương, dần gần gũi.
(23)
Lỗi vô ý, gọi là sai
Lỗi cố ý, gọi là tội
Biết sửa lỗi, không còn lỗi
Nếu che giấu, lỗi chồng thêm.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
20
YÊU RỘNG KHẮP
(汎愛眾 PHIẾM ÁI CHÚNG)
(24)
Phàm là người, đều yêu thương
Che cùng trời, ở cùng đất
Đức hạnh cao, danh tự cao
Mọi người trọng, không bề ngoài
Người tài lớn, danh tự lớn
Được người phục, chẳng do khoe.
(25)
Mình có tài, chớ dùng riêng
Người có tài, chớ nói xấu
Chớ nịnh giàu, chớ khinh nghèo
Chớ ghét cũ, chớ thích mới
Người không rảnh, chớ làm phiền
Người bất an, chớ quấy nhiễu.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
21
(26)
Người có lỗi, chớ vạch trần
Việc riêng người, chớ nói truyền
Khen người thiện, tức là thiện
Người biết được, càng gắng sức
Nói người xấu, chính là ác
Ác cùng cực, tai họa đến
Cùng khuyến thiện, cùng lập đức
Lỗi không khuyên, thiệt cả hai.
(27)
Hễ nhận cho, phân biệt rõ
Cho nên nhiều, nhận nên ít
Làm cho người, hỏi mình trước
Mình không thích, phải mau ngưng
Ân phải báo, oán phải quên
Báo oán ngắn, báo ân dài.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
22
(28)
Với người dưới, thân đoan chính
Tuy đoan chính, lòng độ lượng
Thế phục người, tâm không phục
Lý phục người, tâm mới phục.
GẦN NGƯỜI NHÂN
(親仁 THÂN NHÂN)
(29)
Cùng là người, tính tình khác
Thô tục nhiều, nhân từ ít.
Đúng người nhân, người kính sợ
Nói thẳng lời, không xu nịnh
Gần người nhân, tốt vô hạn
Đức ngày tăng, lỗi ngày giảm
Không gần nhân, hại vô cùng
Tiểu nhân đến, trăm việc hỏng.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
23
CÓ DƯ SỨC THÌ HỌC VĂN
(餘力學文 DƯ LỰC HỌC VĂN)
(30)
Không thực hành, chỉ học văn
Chỉ phù hoa, chẳng nên người
Chỉ thực hành, không học văn
Theo ý mình, mù lẽ phải.
(31)
Cách đọc sách, có ba điểm
Tâm mắt miệng, đều chú trọng
Đang đọc đây, chớ thích kia
Đây chưa xong, kia chớ đọc
Thời gian ít, cần chăm chỉ
Công phu đủ, đọc liền thông
Tâm có nghi, thì chép lại
Tìm người hỏi, cầu nghĩa đúng.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
24
(32)
Gian phòng sạch, vách tường sạch
Bàn học sạch, bút nghiên ngay
Mực mài nghiêng, tâm bất chính
Chữ không kính, tâm sinh bệnh
Xếp sách vở, chỗ cố định
Đọc xem xong, trả chỗ cũ
Tuy có gấp, xếp ngay ngắn
Có sai hư, liền tu bổ
Không sách Thánh, bỏ không xem
Che thông minh, hư tâm chí
Chớ tự chê, đừng tự bỏ
Thánh và Hiền, dần làm được.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
(Minh hoạ: Đại Kỷ Nguyên)
27
ĐẠI KỶ NGUYÊN
29
TỔNG QUAN
總敘
TỔNG TỰ
30
Phép tắc người con - Bài 1
Phép người con
(1)
Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, rồi cẩn tín
Yêu rộng khắp, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn.
Diễn giải:
“Phép tắc người con” (Đệ tử quy) là quy phạm đạo đức của cổ Thánh
tiên hiền dạy bảo hướng dẫn mọi người. Trong đó, điều then chốt
nhất là hiếu thuận với cha mẹ, kính nhường anh chị bạn bè, tiếp đến
là làm người, hành xử phải cẩn thận và thành tín.
Cần phải yêu thương tất cả mọi người trong thiên hạ, đồng thời
nên thường xuyên gần gũi với những người nhân đức để học tập họ.
Khi thực hiện những điều trên rồi mà vẫn còn dư thời gian, tinh thần
và sức lực thì mới có thể học các loại học vấn, văn hóa.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
31
Câu chuyện tham khảo:
Vua Thuấn Ông tổ của đạo đức
Vua Thuấn là một trong Ngũ Đế thời
thượng cổ, ông họ Diêu, tên là Trọng
Hoa, hiệu là Ngu Thị, sử sách gọi ông
là Ngu Thuấn.
Vua Thuấn. (Ảnh: wikimedia)
K
hi Thuấn còn rất nhỏ thì
mẹ qua đời, người cha là Cổ
Tẩu (nghĩa là Ông Mù) bị mù
hai mắt lấy vợ kế, sinh được người
em tên là Tượng. Cha của Thuấn là
người ngoan cố không đếm xỉa gì
đến nghĩa lý, cộng thêm mẹ kế tính
tình hung dữ thô bạo, em trai ngang
ngược. Mẹ kế và Tượng được Cổ Tẩu
sủng ái, 3 người đều ghét Thuấn,
thường xuyên nghĩ cách hạ sát ông.
Một lần, Cổ Tẩu gọi Thuấn sửa
kho thóc, đợi đến khi Thuấn leo lên
đỉnh kho, Cổ Tẩu liền châm lửa đốt
kho thóc. Thuấn cầm hai cái nón lá
như con chim nhỏ hạ xuống, Cổ Tẩu
không thể hại chết được ông.
Sau này, Cổ Tẩu lại bảo Thuấn đi
đào giếng. Khi Thuấn ở sâu trong
giếng, Cổ Tẩu và Tượng hợp sức lấp
đất vào giếng. Tượng vốn cho rằng
lần này không thể có sơ suất, sẽ độc
chiếm gia sản của Thuấn. Không ngờ
Thuấn rất thông minh, khi đào giếng
đã đào trước một đường thông ở bên
nên đã thoát được ra ngoài. Khi thấy
Thuấn trở về nhà, mọi người sợ hãi
lắm. Nhưng Thuấn khoan hồng độ
lượng vẫn dùng đức báo oán, vẫn
hiếu kính cha mẹ, yêu thương em
trai như cũ.
Người xưa nói: “Trăm nết hiếu
đứng đầu” (nguyên văn: Bách thiện
hiếu vi tiên). Năm 20 tuổi, Thuấn nổi
tiếng khắp thiên hạ bởi hiếu hạnh.
Năm Thuấn 30 tuổi, vua Nghiêu tìm
người hiền tài, quần thần khắp nơi
đều tiến cử Thuấn.
Vua Nghiêu đã gả con gái là Nga
Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn, đồng
thời cho 9 người con trai sống cùng
với Thuấn để quan sát phẩm đức của
Thuấn. Nga Hoàng, Nữ Anh đều được
đức hạnh của Thuấn cảm hoá, không
dám vì thân phận tôn quý mà có thái
độ kiêu căng ngạo mạn, đối xử với
ĐẠI KỶ NGUYÊN
32
Đức hiếu thuận của Thuấn làm cảm động cả trời cao.
(Ảnh minh hoạ: epochtimes.com)
mọi người đều vô cùng khiêm tốn
cung kính. 9 người con trai của vua
Nghiêu được Thuấn cảm hóa thấm
nhuần một cách vô tri vô giác, cũng
đã trở thành những người nhân hậu
cẩn thận.
Thuấn đến núi Lịch Sơn cày ruộng,
người vùng đó chịu ảnh hưởng của
Thuấn cũng trở nên tấm lòng rộng
mở, nhường đất làm địa giới ruộng.
Thuấn đến đầm Lôi Trạch bắt cá,
người Lôi Trạch tranh nhau nhường
nơi ở. Thuấn đến bên sông Hoàng Hà
làm gốm, đồ gốm ở đó làm ra đều trở
nên vô cùng tinh tế. Mọi người đều
thích sống cùng với Thuấn. Do đó,
những nơi mà ông ở thì chỉ một năm
trở thành thôn làng, 2 năm thành
thị trấn, 3 năm thành đô thị lớn. Trải
qua khảo sát, vua Nghiêu vô cùng hài
lòng, đã truyền ngôi vua cho Thuấn.
Vua Thuấn đặc biệt chú trọng giáo
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
dục đạo đức, ông tuyên dương giáo
dục ngũ thường: cha nhân nghĩa, mẹ
nhân từ, anh hiền từ, em cung kính,
con hiếu thuận (nguyên văn: phụ
nghĩa, mẫu từ, huynh hữu, đệ cung,
tử hiếu). Ông thúc đẩy đạo đức nhân
luân, khai sáng nền đạo đức truyền
thống các dân tộc Á Đông, trở thành
mẫu mực cho muôn đời sau.
Phụ chú
- Tam Hoàng Ngũ Đế: Thời viễn cổ,
vua Phục Hy, Thần Nông và Hoàng
Đế gọi là Tam Hoàng. Các vua Hoàng
Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường
Nghiêu, Ngu Thuấn gọi là Ngũ Đế.
Các văn hiến cổ ghi chép, Hoàng Đế
là một trong Tam Hoàng, cũng đứng
đầu Ngũ Đế.
33
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
弟 子 規 聖 人 訓
首 孝 弟 次 謹 信
汎 愛 眾 而 親 仁
有 餘 力 則 學 文
2. Âm Hán Việt:
Đệ tử quy, Thánh nhân huấn
Thủ hiếu đễ, thứ cẩn tín
Phiếm ái chúng, nhi thân nhân
Hữu dư lực, tắc học văn.
3. Pinyin Hán ngữ:
Dì zǐ guī, Shèng rén xùn
Shǒu xiào tì, cì jǐn xìn
Fàn ài zhòng, ér qīn rén
Yǒu yú lì, zé xué wén.
người có lòng nhân ái. Nhân
nghĩa là lòng nhân từ khoan
hậu, là đạo đức cơ bản yêu
người, yêu vật.
• Dư lực: tâm sức dư thừa.
• Tắc: thì, thì mới
• Học văn: nghiên cứu học vấn.
Khổng Tử nói “Hành hữu dư
lực, tắc dĩ học văn”, nghĩa là
thực hành các việc trên mà
còn dư tâm sức thì mới nghiên
cứu học vấn. Ông chủ trương
đức dục quan trọng hơn trí
dục, phải trước tiên gây dựng
nên phẩm đức tốt đẹp, vẫn còn
thời gian thì mới học tập các
học vấn khác.
4. Chú giải:
• Đệ tử: người con, người em,
con em
• Quy: quy phạm, phép tắc
• Thánh nhân: Bậc cổ Thánh
tiên hiền có phẩm đức cao
siêu, nhân cách hoàn mỹ.
• Huấn: Dạy bảo hướng dẫn
• Thủ: đầu, quan trọng hàng đầu
• Hiếu đễ: Hiếu thuận cha mẹ,
tôn kính anh chị. Chữ đễ 弟
còn viết là 悌, nghĩa là kính
trọng thuận theo anh chị.
• Thứ: quan trọng thứ nhì
• Cẩn tín: cẩn thận thận trọng,
thành thật giữ chữ tín.
• Phiếm ái chúng: Yêu thương
tất cả mọi người. Phiếm nghĩa
là rộng rãi.
• Nhi: mà lại, hơn nữa
• Thân nhân: thân cận gần gũi
ĐẠI KỶ NGUYÊN
35
Ở NHÀ PHẢI HIẾU
入則孝
NHẬP TẮC HIẾU
36
Phép tắc người con - Bài 2
Cha mẹ gọi
(2)
Cha mẹ gọi, trả lời ngay
Cha mẹ bảo, làm lập tức
Cha mẹ dạy, phải kính nghe
Cha mẹ trách, phải tiếp nhận.
Diễn giải:
Khi cha mẹ có việc gọi thì chúng ta phải trả lời ngay, không được
trì hoãn. Khi cha mẹ sai bảo làm việc thì chúng ta lập tức hành động,
không được lười nhác. Những đạo lý cha mẹ dạy bảo hướng dẫn thì
chúng ta phải cung kính lắng nghe, ghi nhớ trong tâm. Những lỗi
lầm mà cha mẹ trách mắng, uốn nắn thì chúng ta phải nghe theo,
tiếp nhận, thẳng thắn thừa nhận lỗi lầm, không được cãi lại, tranh
cãi, không được che giấu lỗi lầm.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
37
Câu chuyện tham khảo:
Chu Bạt ngỗ nghịch
với cha mẹ bị đọa
thành lừa
Chu Bạt là người huyện Bình Dương,
tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, từ nhỏ
đã là một tiểu Thần đồng, sách đã xem
qua là ghi nhớ, 7 tuổi đã biết ngâm thơ
làm văn. Năm 16 tuổi thơ văn Chu Bạt
đã nổi tiếng, được ca ngợi là 'tài tử
Bình Dương'. Bởi vì được mọi người
ca ngợi, được cha mẹ sủng ái, Chu Bạt
càng ngày càng cuồng vọng tự cao tự
đại, không coi ai ra gì. Cha mẹ, anh
em và hàng xóm của Chu Bạt thường
xuyên phải nhẫn chịu những cơn
nóng nảy tức giận của anh.
M
ột năm, Chu Bạt phải lên
kinh dự thi. Để lo lộ phí
cho Chu Bạt, cha mẹ anh đã
phải đôn đáo ngược xuôi vay mượn,
còn mời thợ may may cho anh bộ y
phục mới. Nhưng Chu Bạt không biết
đủ, chê lộ phí quá ít, chê y phục quá
rộng, chê quần quá dài, che mũ kiểu
dáng cũ kỹ, chê giày màu sắc quá
đậm. Bao vất vả khổ tâm của cha mẹ
lại được báo đáp bằng nỗi oán hận
của Chu Bạt.
Cha mẹ không nhẫn nhịn nổi đã
dạy bảo anh rằng: “Con à, con không
được chê cái này chê cái kia, con
phải biết vì con đi thi lần này, giúp
con lo lộ phí, may quần áo mới, cha
mẹ đã vắt óc suy nghĩ, khiến đầu đã
bạc hết cả rồi, mà con vẫn chưa biết
hài lòng như thế này, cha mẹ cũng
đã hết cách rồi”.
Những lời nói này của cha mẹ
cũng chẳng khiến Chu Bạt động
lòng, trái lại Chu Bạt gầm thét lớn
rằng: “Tôi là Văn Xương tinh ở trên
Trời hạ xuống phàm trần, là một đại
quý tử. Các người là ông bà già quê
mùa như bao cỏ kia, có tư cách làm
cha mẹ của tôi không?”.
Cha Chu Bạt bị làm cho tức giận
đến nỗi ngất ngay tại chỗ.
Đêm hôm đó, Chu Bạt bị bắt đến Âm
phủ. Diêm Vương nói với anh rằng:
“Ngươi thường ngày ngỗ nghịch với
cha mẹ, tuy có cái vỏ thân xác con
người nhưng lại là lòng dạ của súc
sinh, hạt giống súc sinh trong tâm địa
đã kết quả rồi, ngươi sẽ phải mất đi cái
thân người mà đọa thành súc sinh”.
Chu Bạt biện giải: “Con đối với
cha mẹ chỉ là đúng lý mà nói trực
ngôn, sao lại tính là ngỗ nghịch bất
hiếu được? Hơn nữa con là một tài
tử thông minh tuyệt đỉnh, sao có thể
ĐẠI KỶ NGUYÊN
38
biến thành súc sinh ngu ngốc được?
Lời nói của Ngài không khiến con
tín phục”.
Diêm Vương hiền từ giải thích:
“Ngươi đời này thông minh là do
đời trước có thiện hạnh. Nhưng đời
này những ác hạnh của ngươi như
bừa bãi cuồng vọng, ngạo mạn vô
lễ, nóng nảy, ngỗ nghịch… đã nuôi
dưỡng hạt giống súc sinh; hạt giống
thiện lương đời trước đã bị hủy
hoại hết rồi. Ngươi cuồng vọng đến
mức không coi ai ra gì, báo ứng của
ngươi sẽ là đọa xuống thành lừa, bị
mọi người bịt mắt kéo cối xay, chịu
roi vọt”.
Chu Bạt nghe xong cảm thấy rất có
đạo lý, tự biết mình sẽ bị ác báo khó
mà thoát được, kinh hoàng tỉnh dậy.
Hôm đó liền mắc bệnh hiểm nghèo,
mở miệng ra rất khó khăn, hai hàm
răng ngậm chặt lại, cổ họng phát ra
tiếng lừa kêu. Các danh y đều không
thể nào chẩn đoán ra bệnh gì, không
đến 2 ngày, Chu Bạt chết trong lúc kêu
thét như lừa.
(Nguồn: “Án thất đăng” đời Thanh)
Phụ chú
- Lừa kéo cối xay: Khi lừa kéo cối
xay, nếu nhìn thấy thức ăn trên cối
xay sẽ khiến nó muốn ăn mà dừng
lại, không chịu kéo cối xay nữa, do đó
phải bịt hai mắt nó lại.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
父 母 呼 應 勿 緩
父 母 命 行 勿 懶
父 母 教 須 敬 聽
父 母 責 須 順 承
2. Âm Hán Việt:
Phụ mẫu hô, ứng vật hoãn
Phụ mẫu mệnh, hành vật lãn
Phụ mẫu giáo, tu kính thính
Phụ mẫu trách, tu thuận thừa.
3. Pinyin Hán ngữ:
Fù mǔ hū,yìng wù huǎn
Fù mǔ mìng,xíng wù lǎn
Fù mǔ jiào,xū jìng tīng
Fù mǔ zé,xū shùn chéng.
4. Chú giải:
• Hô: gọi
• Ứng: trả lời, đáp lời
• Vật: không được, chớ, đừng
• Hoãn: chậm rãi, chậm chạp
• Mệnh: mệnh lệnh, sai bảo
• Hành: hành động, làm, thực
hiện
• Lãn: lười nhác, không nỗ lực
• Giáo: dạy bảo hướng dẫn, răn dạy
• Tu: phải
• Kính thính: cung kính lắng nghe
• Trách: Trách mắng, đòi hỏi
• Thuận thừa: tiếp thu, nghe theo.
39
Phép tắc người con - Bài 3
Đông ấm, hạ mát
(3)
Đông phải ấm, hạ phải mát
Sáng phải thăm, tối phải viếng
Đi phải thưa, về phải trình
Sống quy củ, không thay đổi.
Diễn giải:
Mùa đông cần ủ ấm chăn chiếu cho cha mẹ, mùa hè cần quạt mát
giường chiếu cho cha mẹ. Buổi sáng dậy phải hỏi thăm, vấn an cha
mẹ, buổi tối phải sửa soạn chăn màn giường chiếu cho cha mẹ.
Đi ra ngoài cần bẩm báo với cha mẹ, về nhà phải trình báo với cha
mẹ. Sinh hoạt ăn ở ngủ nghỉ phải có quy luật, trật tự thường nhật
không được tùy ý sửa đổi.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
40
Câu chuyện tham khảo:
Hiếu hạnh với
cha mẹ được biểu
dương lên Hoàng đế
Hoàng Hương là người Giang Hạ thời
Đông Hán. Khi Hoàng Hương 9 tuổi
thì mẹ cậu qua đời, cậu vô cùng nhớ
thương mẹ, người làng đều nói cậu
là một người con hiếu thảo.
H
oàng Hương làm việc rất
chăm chỉ cần cù chịu khó,
không sợ khổ, một lòng một
dạ hiếu kính với cha, nghĩ mọi cách
để cha được nghỉ ngơi, được thoải
mái dễ chịu.
Mùa hè nóng nực, muỗi nhiều,
Hoàng Hương biết cha sợ nóng,
thường không ngủ được, lại bị muỗi
đốt. Do đó, mỗi buổi tối trước khi cha
đi ngủ, Hoàng Hương đều dùng quạt
quạt mát giường chiếu, xua đuổi muỗi
đi rồi mới mời cha đi ngủ. Đến mùa
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
Hoàng Hương quạt mát giường chiều rồi mới
mời cha đi nghỉ.
đông, trời lạnh giá, Hoàng Hương sợ
cha bị giá rét nên đã nằm vào giường
trước ủ ấm chăn chiếu, sau đó mới
mời cha lên giường đi nghỉ.
Sau đó, hiếu hạnh của Hoàng
Hương truyền khắp kinh thành,
không ai là không biết. Thái thú
Giang Hạ nghe được chuyện này,
cảm thấy thật là hiếm có, ông bèn
dâng biểu lên Hoàng đế biểu dương
nết hiếu hạnh của Hoàng Hương.
Hoàng Hương còn nhỏ tuổi đã đọc
thuộc các kinh điển, học rộng văn
hay, văn chương của cậu nổi tiếng
cả kinh thành, mọi người đều khen
ngợi là: “Cậu bé Hoàng Hương, thiên
hạ vô song”.
(Nguồn: “Nhị thập tứ hiếu”)
41
Phụ chú
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
冬 則 溫 夏 則 凊
晨 則 省 昏 則 定
出 必 告 反 必 面
居 有 常 業 無 變
2. Âm Hán Việt:
Đông tắc ôn, hạ tắc sảnh
Thần tắc tỉnh, hôn tắc định
Xuất tất cáo, phản tất diện
Cư hữu thường, nghiệp vô biến.
3. Pinyin Hán ngữ:
Dōng zé wēn,xià zé qìng
Chén zé xǐng,hūn zé dìng
Chū bì gào,fǎn bì miàn
Jū yǒu cháng,yè wú biàn.
4. Chú giải:
• Sảnh: mát.
• Tỉnh: thăm viếng, hỏi thăm.
• Hôn: hoàng hôn, tối.
• Định: an định, ở đây nghĩa là
sắp xếp chuẩn bị giường chiếu.
• Tất: nhất định, phải.
• Phản: quay lại, trở về.
• Diện: gặp mặt, gặp, diện kiến.
• Cư: cư trú, chỉ lễ tiết sinh hoạt
thường nhật.
• Thường: cố định không thay đổi.
• Nghiệp: thứ tự, trình tự.
• Vô: chớ, không được.
Cậu bé Hoàng Hương hiếu hạnh với cha mẹ được biểu dương lên Hoàng đế.
(Ảnh minh hoạ trong bài từ NTD.com)
ĐẠI KỶ NGUYÊN
42
Phép tắc người con - Bài 4
Việc nhỏ
(4)
Việc tuy nhỏ, chớ tự làm
Nếu tự làm, thiếu đạo con
Vật tuy nhỏ, chớ cất riêng
Nếu cất riêng, cha mẹ buồn.
Diễn giải:
Sự việc tuy nhỏ mọn cũng không thể chưa bẩm báo rõ với cha mẹ
mà đã tự tiện quyết định làm. Nếu cứ làm tùy theo ý mình là thiếu
bổn phận của người làm con. Đồ vật tuy bé nhỏ cũng không được cất
giữ riêng. Nếu chiếm làm của riêng sẽ khiến cha mẹ cảm thấy tủi hổ,
đau lòng.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
43
Câu chuyện tham khảo:
Mẹ Đào Khản
trả vại cá trách
mắng con
Phụ chú
Đào Khản là danh tướng của Đông
Tấn, cha mất sớm, thuở nhỏ gia cảnh
nghèo khó. Mẹ Đào Khản là Trạm Thị
dệt vải để cho con ăn học, bà rất coi
trọng việc tu dưỡng phẩm đức của
Đào Khản.
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
事 雖 小 勿 擅 為
苟 擅 為 子 道 虧
物 雖 小 勿 私 藏
苟 私 藏 親 心 傷
K
2. Âm Hán Việt:
Sự tuy tiểu, vật thiện vi
Cẩu thiện vi, tử đạo khuy
Vật tuy tiểu, vật tư tàng
Cẩu tư tàng, thân tâm thương.
hi còn trẻ, Đào Khản làm
huyện lại huyện Tầm Dương
tỉnh Giang Tây, giám sát quản
lý việc đánh bắt cá. Ông sai người
tặng mẹ một vại cá khô muối, mẹ ông
để nguyên vại cá trả lại, đồng thời
viết thư trách mắng ông: “Con làm
quan lại huyện phủ, lấy của công để
tặng mẹ, cho rằng mẹ sẽ vui mừng
sao? Như thế là làm tăng thêm nỗi lo
lắng của mẹ đó”.
Từ đó, những nơi mà Đào Khản
đến, ông đều được người dân ca
ngợi bởi sự liêm khiết, trong sạch
và tận tâm làm hết trách nhiệm.
Sau này, ông làm Chinh Tây đại
tướng quân, được phong làm Quận
công Trường Sa.
3. Pinyin Hán ngữ:
Shì suī xiǎo,wù shàn wéi
Gǒu shàn wéi,zǐ dào kuī
Wù suī xiǎo,wù sī cáng
Gǒu sī cáng,qīn xīn shāng.
4. Chú giải:
• Thiện: tự ý chủ trương, làm tùy
tiện theo ý mình.
• Cẩu: nếu, nếu như.
• Tử đạo: đạo làm con. Đạo ở đây
nghĩa là đạo lý, phép tắc.
• Khuy: tổn hao, thiếu, khiếm
khuyết.
• Tư tàng: cất giữ riêng, chiếm
làm của riêng.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
44
Phép tắc người con - Bài 5
Cha mẹ ghét
(5)
Cha mẹ thích, dốc lòng làm
Cha mẹ ghét, cẩn thận bỏ
Thân tổn thương, cha mẹ lo
Đức tổn thương, cha mẹ tủi
Cha mẹ thương, hiếu đâu khó
Cha mẹ ghét, hiếu mới hay.
Diễn giải:
Những sự vật hoặc hành vi mà cha mẹ yêu thích, là người làm con
vì cha mẹ thì phải dốc hết sức làm được. Những sự vật hoặc hành
vi mà cha mẹ không thích, là người làm con vì cha mẹ thì phải cẩn
thận bài trừ, cẩn thận sửa chữa quy chính.
Thân thể người con bị thương sẽ làm cho cha mẹ buồn rầu lo lắng.
Phẩm đức người con bị tổn hao sẽ khiến cha mẹ tủi nhục.
Cha mẹ yêu thương mình, mình hiếu thuận với cha mẹ thì có gì là
khó? Cha mẹ ghét bỏ mình, mình vẫn hiếu thuận với cha mẹ, đó mới
là người hiền có phẩm đức cao thượng thực sự.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
45
Câu chuyện tham khảo:
Mẫn Tử Khiên
mặc áo hoa lau
hiếu thuận với mẹ
Mẫn Tổn tên tự là Tử Khiên, người
nước Lỗ thời Xuân Thu (triều nhà
Chu), là đệ tử của Khổng Tử. Đức
hạnh Tử Khiên nổi tiếng sánh vai
với Nhan Uyên, ông cũng là một
trong 24 tấm gương hiếu hạnh.
Tử Khiên. Mùa đông giá rét, cha Tử
Khiên bảo cậu giúp ông đánh xe,
Tử Khiên bị rét cứng tay chân, cầm
không nổi dây cương, mấy lần đánh
rơi dây cương. Bị cha trách mắng,
cậu vẫn không biện hộ giải thích.
Sau đó, cha cậu thấy cậu bị lạnh
đến mức mặt xanh xám tái nhợt.
Ông sờ lên áo rét của cậu mới phát
hiện ra áo rất mỏng. Ông xé áo ra
xem mới biết không phải là áo bông,
mà áo rét của hai người con của mẹ
kế lại toàn là bông tinh chất. Cha
ông cảm thấy vô cùng đau buồn,
quyết định bỏ vợ.
Tử Khiên khóc như mưa khuyên
cha: “Mẹ còn thì chỉ một người con
bị lạnh, mẹ đi thì cả 3 người con côi
cút”. Mẹ kế nghe thấy vô cùng cảm
động, cuối cùng hối cải, đối đãi với
cả 3 người con như một người mẹ
hiền từ. Danh tiếng người con hiếu
hạnh của Mẫn Tử Khiên cũng từ đó
mà lan truyền khắp thiên hạ.
Mẫn Tử Khiên kéo xe giúp cha.
(Ảnh minh hoạ: epochtimes.com)
K
hi còn nhỏ, Mẫn Tử Khiên đã
mồ côi mẹ, cha tái hôn, mẹ
kế sinh được hai em trai. Tử
Khiên vô cùng hiếu thuận với cha
mẹ, nhưng mẹ kế lại rất ghét cậu.
Bà dùng bông làm áo rét cho hai con
đẻ, và dùng hoa lau làm áo rét cho
Mẫn Tử Khiên khuyên cha bỏ qua cho người
mẹ kế. (Ảnh: sohu.com)
ĐẠI KỶ NGUYÊN
46
Phụ chú
24 tấm gương hiếu hạnh (Nhị thập
tứ hiếu):
Quách Cư Kính là một người con
hiếu hạnh nổi tiếng triều Nguyên.
Ông cảm thán rằng không còn cơ hội
để hiếu thuận với cha mẹ đã mất, bèn
lựa chọn những câu chuyện của 24
người con hiếu hạnh tiêu biểu nhất
được lưu truyền trong các sách cổ,
biên soạn thành sách “Nhị thập tứ
hiếu” (24 tấm gương hiếu hạnh), gồm
có: Ngu Thuấn, Hán Văn Đế, Tăng Sâm
triều Chu, Mẫn Tổn triều Chu, Tử Lộ
triều Chu, Đổng Vĩnh triều Hán, Đàm
Tử triều Chu, Giang Cách triều Hậu
Hán, Lục Tích triều Hậu Hán, Đường
Phu Nhân triều Đường, Ngô Mãnh
triều Tấn, Vương Tường triều Tấn,
Quách Cự triều Hán, Dương Hương
triều Tấn, Chu Thọ Xương triều Tống,
Canh Kiền Lâu triều Nam Tề, Lão Lai
Tử triều Chu, Thái Thuận triều Hán,
Hoàng Hương triều Hán, Khương Thi
triều Hán, Vương Bầu nước Ngụy thời
Tam Quốc, Đinh Lan triều Hán, Mạnh
Tông thời Tam Quốc, Hoàng Đình Kiên
triều Tống.
1. Nguyên văn Đệ tử quy:
親 所 好 力 為 具
親 所 惡 謹 為 去
身 有 傷 貽 親 憂
德 有 傷 貽 親 羞
親 愛 我 孝 何 難
親 憎 我 孝 方 賢
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
2. Âm Hán Việt:
Thân sở hiếu, lực vị cụ
Thân sở ố, cẩn vị khứ
Thân hữu thương, di thân ưu
Đức hữu thương, di thân tu
Thân ái ngã, hiếu hà nan
Thân tăng ngã, hiếu phương hiền.
3. Pinyin Hán ngữ:
Qīn suǒ hào,lì wèi jù
Qīn suǒ wù,jǐn wèi qù
Shēn yǒu shāng,yí qīn yōu
Dé yǒu shāng,yí qīn xiū
Qīn ài wǒ,xiào hé nán
Qīn zēng wǒ,xiào fāng xián.
4. Chú giải:
• Thân: cha mẹ, phụ thân và mẫu
thân
• Hiếu: thích
• Lực: dốc sức, hết sức
• Cụ: đủ, chuẩn bị đủ
• Ố: ghét
• Cẩn: cẩn thận
• Khứ: trừ bỏ
• Di: để lại, lưu lại
• Ưu: lo lắng ưu sầu
• Tu: xấu hổ, hổ thẹn, mất mặt,
mất thể diện
• Hà nan: có gì khó đâu? Hà có
nghĩa là vì sao, sao
• Tăng: ghét
• Phương: mới, thì mới
• Hiền: hiền lương, phẩm đức
cao thượng.
47
Phép tắc người con - Bài 6
Cha mẹ lỗi
(6)
Cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi
Mặt ta vui, lời ta dịu
Khuyên không nghe, vui can tiếp
Dùng khóc khuyên, đánh không giận.
Diễn giải:
Cha mẹ có lỗi lầm thì phải cố gắng khuyên can để cha mẹ sửa
chữa, quy chính, bản thân mình cần phải có vẻ mặt hòa nhã vui vẻ,
nói năng dịu dàng. Cha mẹ không nghe lời khuyên can thì phải đợi
đến khi cha mẹ vui rồi khuyên can tiếp, nếu vẫn chưa được thì khóc
lóc cầu xin, cho dù bị cha mẹ đánh cũng không hề có một lời oán hận.
ĐẠI KỶ NGUYÊN
48
(Ảnh minh hoạ: NTD.com)
Câu chuyện tham khảo:
Tú Trinh khuyên
mẹ cứu em gái
Vào thời nhà Minh, mẹ của Dương
Tú Trinh sinh liền 3 người con gái,
không có con trai. Sinh người con
thứ 4 cũng vẫn là gái. Bà tức giận
lắm, muốn dìm chết đứa trẻ sơ sinh.
PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)
K
hi đó Dương Tú Trinh 13 tuổi,
cô vội vàng chạy đến ôm lấy
em gái rồi quỳ xuống cầu xin
mẹ: “Mẹ à, vì con trai mà sát hại con
gái thì càng không thể có được con
trai đâu. Nếu mẹ phiền não vì phải lo
của hồi môn sau này thì hãy lấy con
làm của hồi môn cho em gái này”.
Bà nội chửi cô không hiểu sự đời,
Tú Trinh...
 





