BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

VI DEO GIỚI THIỆU SÁCH THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    VIET_NAM_MAU_3.jpg Larger_hqe1403055122.jpg Untitled.png CangBien.jpg

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Phep Tac Nguoi Con - Tien sinh Ly Duc Tu

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 13h:36' 07-03-2024
    Dung lượng: 7.3 MB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    Cuốn sách dạy con được yêu chuộng
    nhất trong lịch sử Á Đông

    Cuốn sách dạy con được yêu chuộng nhất trong lịch sử Á Đông

    GIỚI THIỆU

    H

    iện nay, hầu hết các trường học ở Việt Nam đều đặt rất
    trang trọng dòng chữ: “Tiên học lễ, hậu học văn". Câu này
    thực ra có nguồn gốc từ lời giáo huấn của đức Khổng Tử
    trong “Luận ngữ - Học nhi”:
    “Con em ở nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường
    bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà giữ chữ Tín, yêu khắp
    mọi người mà gần gũi người nhân đức; làm được đến vậy rồi mà
    còn dư sức thì hãy học văn”.
    Bám sát lời dạy ấy mà tiên sinh Lý Dục Tú vào những năm
    Khang Hy triều Thanh đã biên soạn nên tác phẩm “Đệ tử quy”
    (Phép tắc người con), được mệnh danh là một trong ba kinh điển
    giáo dục con em tốt nhất trong lịch sử Á Đông (cùng với “Tam tự
    kinh” và “Thiên tự văn").
    Tiên sinh Lý Dục Tú vì đã viết “Đệ tử quy” mà sau khi mất được
    thờ ở Đền Tiên Hiền ở Giáng Châu Tây Sơn. Tên sách “Đệ tử quy”
    là do Giả Tồn Nhân triều Thanh đặt, khi ông hiệu đính “Huấn
    mông văn" của Lý Dục Tú. Mà “Huấn mông văn" lại là do Lý Dục
    Tú cải biên từ sách “Đồng mông tu tri" của Chu Hy đời Tống mà ra.
    Chu Hy thấy trường học khi đó “Giáo dục không có phương
    pháp, thầy trò nhìn nhau, lạnh nhạt như người qua đường”, đạo
    đức bại hoại, trọng lợi quên nghĩa, giáo dục chỉ để học sinh ứng
    phó với thi cử. Chu Hy cho rằng đây là bỏ gốc lấy ngọn, ông chủ
    trương dạy ngữ văn nên “lấy việc làm sáng tỏ nhân luân làm gốc”,
    do đó đã biên soạn một loạt giáo trình ngữ văn, trong đó để dạy
    trẻ em ông đã viết “Đồng mông tu tri”, dạy bảo hướng dẫn trẻ em
    chi tiết trong đời sống thường ngày.
    Kế tục nội hàm của “Đồng mông tu tri”, cốt lõi của “Đệ tử quy”
    cũng là dạy bảo hướng dẫn trẻ em đạo đức luân lý và lễ tiết cơ
    bản, quy phạm hành vi chính xác của trẻ em.
    Căn cứ vào lời dạy của Khổng Tử, “Đệ tử quy” chia làm 7 đoạn
    lớn là: “Ở nhà phải hiếu”, “Ra ngoài phải đễ”, “Cẩn thận”, “Thủ tín”,
    “Yêu thương rộng khắp”, “Gần người nhân”, “Có dư sức thì học văn”.

    Vỏn vẹn trong 1.080 chữ, nội dung dễ hiểu, vần điệu lưu loát, dễ
    thuộc, “Đệ tử quy” giúp các em hình thành nhân cách trong sáng,
    thiện lương, vun trồng đức hạnh, có thể giữ phẩm giá trong thời
    buổi đạo đức suy thoái, dưỡng thành gia phong trung hậu, là nền
    tảng quan trọng giúp các em gây dựng một tương lai thành công,
    hạnh phúc.
    Trên hành trình phục hưng văn hoá truyền thống, Đại Kỷ Nguyên
    xin được kính cẩn giới thiệu trọn bộ giáo trình “Đệ tử quy" gồm
    32 bài được biên soạn từ tài liệu giáo khoa văn hoá của mạng
    Chánh Kiến (www.zhengjian.org), mỗi bài đều có bản dịch, diễn
    giải, câu chuyện tham khảo và phần phụ chú, giúp các em và
    cha mẹ, thầy cô tham khảo để hiểu hàm nghĩa sâu sắc nội dung
    của kinh điển.
    Chúng tôi thành tâm hy vọng rằng, cuốn sách quý này sẽ đồng
    hành cùng mỗi gia đình trên con đường tìm về những giá trị đạo
    đức truyền thống tốt đẹp, đạt tới nhân sinh hạnh phúc mỹ mãn.
    BBT ĐẠI KỶ NGUYÊN

    MỤC LỤC

    5.

    GIỚI THIỆU

    11.

    KINH VĂN

    12.

    30.

    36.

    RA NGOÀI PHẢI ĐỄ
    (Xuất tắc đễ)
    54.

    Phép tắc người con - Bài 8:
    Anh thương em

    TỔNG QUAN (Tổng tự)

    57.

    Phép tắc người con - Bài 9:
    Ăn uống, đi đứng

    Phép tắc người con - Bài 1:
    Phép người con

    60.

    Phép tắc người con - Bài 10:
    Gặp trên đường

    Ở NHÀ PHẢI HIẾU
    (Nhập tắc hiếu)

    63.

    Phép tắc người con - Bài 11:
    Trước người lớn

    GIẢNG GIẢI

    Phép tắc người con - Bài 2:
    Cha mẹ gọi

    CẨN THẬN (Cẩn)

    39.

    Phép tắc người con - Bài 3:
    Đông ấm, hạ mát

    68.

    Phép tắc người con - Bài 12:
    Sáng dậy sớm

    42.

    Phép tắc người con - Bài 4:
    Việc nhỏ

    71.

    Phép tắc người con - Bài 13:
    Mũ phải ngay

    44.

    Phép tắc người con - Bài 5:
    Cha mẹ ghét

    73.

    Phép tắc người con - Bài 14:
    Áo quý sạch

    47.

    Phép tắc người con - Bài 6:
    Cha mẹ lỗi

    76.

    Phép tắc người con - Bài 15:
    Đi thong thả

    50.

    Phép tắc người con - Bài 7:
    Cha mẹ bệnh

    79.

    Phép tắc người con - Bài 16:
    Vén rèm cửa

    MỤC LỤC

    83.

    88.

    91.

    94.

    99.

    102.

    105.

    Phép tắc người con - Bài 17:
    Sắp vào cửa

    116.

    Phép tắc người con - Bài 26:
    Người có lỗi

    THỦ TÍN (Tín)

    119.

    Phép tắc người con - Bài 27:
    Nhận cho, phân biệt

    Phép tắc người con - Bài 18:
    Lời đã nói

    122.

    Phép tắc người con - Bài 28:
    Với người dưới

    Phép tắc người con - Bài 19:
    Chưa thật chớ nói
    Phép tắc người con - Bài 20:
    Thấy người tốt

    GẦN NGƯỜI NHÂN
    (Thân nhân)
    126.

    Phép tắc người con - Bài 21:
    Đức học tài nghệ

    Phép tắc người con - Bài 29:
    Cùng là người
    CÓ DƯ SỨC THÌ HỌC VĂN
    (Dư lực học văn)

    Phép tắc người con - Bài 22:
    Nghe lỗi giận

    130.

    Phép tắc người con - Bài 30:
    Không thực hành

    Phép tắc người con - Bài 23:
    Lỗi vô ý

    134.

    Phép tắc người con - Bài 31:
    Cách đọc sách

    YÊU RỘNG KHẮP
    (Phiếm ái chúng)

    138.

    Phép tắc người con - Bài 32:
    Gian phòng sạch

    110.

    Phép tắc người con - Bài 24:
    Phàm là người

    113.

    Phép tắc người con - Bài 25:
    Mình có tài

    11

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    12

    Bản dịch tiếng Việt

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON
    (弟子規 ĐỆ TỬ QUY)
    - Lý Dục Tú -

    TỔNG QUAN

    (總敘 TỔNG TỰ)

    (1)
    Phép người con, Thánh nhân dạy
    Hiếu đễ trước, rồi cẩn tín
    Yêu rộng khắp, gần người nhân
    Có dư sức, thì học văn.

    Ở NHÀ PHẢI HIẾU

    (入則孝 NHẬP TẮC HIẾU)

    (2)
    Cha mẹ gọi, trả lời ngay
    Cha mẹ bảo, làm lập tức
    Cha mẹ dạy, phải kính nghe
    Cha mẹ trách, phải tiếp nhận.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    13

    (3)
    Đông phải ấm, hạ phải mát
    Sáng phải thăm, tối phải viếng
    Đi phải thưa, về phải trình
    Sống quy củ, không thay đổi.

    (4)
    Việc tuy nhỏ, chớ tự làm
    Nếu tự làm, thiếu đạo con
    Vật tuy nhỏ, chớ cất riêng
    Nếu cất riêng, cha mẹ buồn.

    (5)
    Cha mẹ thích, dốc lòng làm
    Cha mẹ ghét, cẩn thận bỏ
    Thân tổn thương, cha mẹ lo
    Đức tổn thương, cha mẹ tủi
    Cha mẹ thương, hiếu đâu khó
    Cha mẹ ghét, hiếu mới hay.

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    14

    (6)
    Cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi
    Mặt ta vui, lời ta dịu
    Khuyên không nghe, vui can tiếp
    Dùng khóc khuyên, đánh không giận.

    (7)
    Cha mẹ bệnh, nếm thuốc trước
    Ngày đêm hầu, không rời giường
    Tang ba năm, thường thương nhớ
    Cư xử đổi, không rượu thịt
    Tang đủ lễ, cúng hết lòng
    Thờ người chết, như còn sống.

    RA NGOÀI PHẢI ĐỄ

    (出則弟 XUẤT TẮC ĐỄ)

    (8)
    Anh thương em, em kính anh
    Anh em thuận, hiếu trong đó
    Nhẹ tiền bạc, oán nào sinh
    Lời nhường nhịn, giận tự hết.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    15

    (9)
    Hoặc ăn uống, hoặc đi đứng
    Người lớn trước, người nhỏ sau
    Lớn gọi người, liền gọi thay
    Người không có, mình làm thay
    Gọi người lớn, chớ gọi tên
    Với người lớn, chớ khoe tài.
    (10)
    Gặp trên đường, nhanh đến chào
    Người không nói, lùi cung kính
    Phải xuống ngựa, phải xuống xe
    Đợi người đi, hơn trăm bước
    Người lớn đứng, nhỏ chớ ngồi
    Người lớn ngồi, cho phép ngồi.
    (11)
    Trước người lớn, phải nói nhỏ
    Nhỏ khó nghe, không đúng phép
    Đến phải nhanh, lui phải chậm
    Khi hỏi đáp, mắt nhìn thẳng
    Kính chú bác, như kính cha
    Kính đàn anh, như anh ruột.

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    16

    CẨN THẬN

    (謹 CẨN)

    (12)
    Sáng dậy sớm, tối ngủ trễ
    Lúc chưa già, quý thời gian
    Sáng rửa mặt, và đánh răng
    Tiểu tiện xong, rửa tay sạch.

    (13)
    Mũ phải ngay, nút phải gài
    Tất và giày, mang chỉnh tề
    Mũ quần áo, để cố định
    Chớ để bừa, tránh dơ bẩn.

    (14)
    Áo quý sạch, không quý đắt
    Hợp thân phận, hợp gia đình
    Với ăn uống, chớ kén chọn
    Ăn vừa đủ, chớ quá no
    Tuổi còn nhỏ, chớ uống rượu
    Uống say rồi, rất là xấu.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    17

    (15)
    Đi thong thả, đứng ngay thẳng
    Chào cúi sâu, lạy cung kính
    Chớ đạp thềm, không nghiêng dựa
    Chớ ngồi dang, không rung đùi.
    (16)
    Vén rèm cửa, chớ ra tiếng
    Rẽ quẹo rộng, chớ đụng góc
    Cầm vật rỗng, như vật đầy
    Vào phòng trống, như có người
    Chớ làm vội, vội sai nhiều
    Không sợ khó, chớ qua loa
    Nơi ồn náo, không đến gần
    Việc tà tịch, quyết chớ hỏi.
    (17)
    Sắp vào cửa, hỏi có ai
    Sắp vào nhà, cất tiếng lớn
    Người hỏi ai, nên nói tên
    Nói ta – tôi, không rõ ràng
    Dùng đồ người, cần mượn rõ
    Nếu không hỏi, tức là trộm
    Mượn đồ người, trả đúng hẹn
    Người hỏi mượn, chớ keo kiệt.

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    18

    THỦ TÍN

    (信 TÍN )

    (18)
    Lời đã nói, tín làm đầu
    Lời dối trá, sao nói được
    Nói nhiều lời, không bằng ít
    Phải nói thật, chớ xảo nịnh
    Lời khắc bạc, từ bẩn dơ
    Thói chợ búa, phải loại trừ.

    (19)
    Thấy chưa thật, chớ nói bừa
    Biết chưa đúng, chớ tuyên truyền
    Việc không tốt, chớ nhận bừa
    Nếu nhận bừa, tiến lui sai
    Phàm nói chuyện, nói từ tốn
    Chớ nói nhanh, chớ mơ hồ
    Kia nói phải, đây nói trái
    Không liên quan, chớ quản chuyện.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    19

    (20)
    Thấy người tốt, nên sửa mình
    Dù còn xa, cũng dần kịp
    Thấy người xấu, tự kiểm điểm
    Có thì sửa, không cảnh giác.
    (21)
    Chỉ đức học, chỉ tài nghệ
    Không bằng người, phải tự gắng
    Nếu quần áo, hoặc ăn uống
    Không bằng người, không nên buồn.

    (22)
    Nghe lỗi giận, nghe khen vui
    Bạn xấu đến, bạn hiền đi
    Nghe khen sợ, nghe lỗi vui
    Người hiền lương, dần gần gũi.
    (23)
    Lỗi vô ý, gọi là sai
    Lỗi cố ý, gọi là tội
    Biết sửa lỗi, không còn lỗi
    Nếu che giấu, lỗi chồng thêm.

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    20

    YÊU RỘNG KHẮP

    (汎愛眾 PHIẾM ÁI CHÚNG)

    (24)
    Phàm là người, đều yêu thương
    Che cùng trời, ở cùng đất
    Đức hạnh cao, danh tự cao
    Mọi người trọng, không bề ngoài
    Người tài lớn, danh tự lớn
    Được người phục, chẳng do khoe.

    (25)
    Mình có tài, chớ dùng riêng
    Người có tài, chớ nói xấu
    Chớ nịnh giàu, chớ khinh nghèo
    Chớ ghét cũ, chớ thích mới
    Người không rảnh, chớ làm phiền
    Người bất an, chớ quấy nhiễu.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    21

    (26)
    Người có lỗi, chớ vạch trần
    Việc riêng người, chớ nói truyền
    Khen người thiện, tức là thiện
    Người biết được, càng gắng sức
    Nói người xấu, chính là ác
    Ác cùng cực, tai họa đến
    Cùng khuyến thiện, cùng lập đức
    Lỗi không khuyên, thiệt cả hai.

    (27)
    Hễ nhận cho, phân biệt rõ
    Cho nên nhiều, nhận nên ít
    Làm cho người, hỏi mình trước
    Mình không thích, phải mau ngưng
    Ân phải báo, oán phải quên
    Báo oán ngắn, báo ân dài.

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    22

    (28)
    Với người dưới, thân đoan chính
    Tuy đoan chính, lòng độ lượng
    Thế phục người, tâm không phục
    Lý phục người, tâm mới phục.

    GẦN NGƯỜI NHÂN

    (親仁 THÂN NHÂN)

    (29)
    Cùng là người, tính tình khác
    Thô tục nhiều, nhân từ ít.
    Đúng người nhân, người kính sợ
    Nói thẳng lời, không xu nịnh
    Gần người nhân, tốt vô hạn
    Đức ngày tăng, lỗi ngày giảm
    Không gần nhân, hại vô cùng
    Tiểu nhân đến, trăm việc hỏng.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    23

    CÓ DƯ SỨC THÌ HỌC VĂN

    (餘力學文 DƯ LỰC HỌC VĂN)

    (30)
    Không thực hành, chỉ học văn
    Chỉ phù hoa, chẳng nên người
    Chỉ thực hành, không học văn
    Theo ý mình, mù lẽ phải.

    (31)
    Cách đọc sách, có ba điểm
    Tâm mắt miệng, đều chú trọng
    Đang đọc đây, chớ thích kia
    Đây chưa xong, kia chớ đọc
    Thời gian ít, cần chăm chỉ
    Công phu đủ, đọc liền thông
    Tâm có nghi, thì chép lại
    Tìm người hỏi, cầu nghĩa đúng.

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    24

    (32)
    Gian phòng sạch, vách tường sạch
    Bàn học sạch, bút nghiên ngay
    Mực mài nghiêng, tâm bất chính
    Chữ không kính, tâm sinh bệnh
    Xếp sách vở, chỗ cố định
    Đọc xem xong, trả chỗ cũ
    Tuy có gấp, xếp ngay ngắn
    Có sai hư, liền tu bổ
    Không sách Thánh, bỏ không xem
    Che thông minh, hư tâm chí
    Chớ tự chê, đừng tự bỏ
    Thánh và Hiền, dần làm được.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    (Minh hoạ: Đại Kỷ Nguyên)

    27

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    29

    TỔNG QUAN
    總敘
    TỔNG TỰ

    30

    Phép tắc người con - Bài 1

    Phép người con

    (1)
    Phép người con, Thánh nhân dạy
    Hiếu đễ trước, rồi cẩn tín
    Yêu rộng khắp, gần người nhân
    Có dư sức, thì học văn.

    Diễn giải:
    “Phép tắc người con” (Đệ tử quy) là quy phạm đạo đức của cổ Thánh
    tiên hiền dạy bảo hướng dẫn mọi người. Trong đó, điều then chốt
    nhất là hiếu thuận với cha mẹ, kính nhường anh chị bạn bè, tiếp đến
    là làm người, hành xử phải cẩn thận và thành tín.
    Cần phải yêu thương tất cả mọi người trong thiên hạ, đồng thời
    nên thường xuyên gần gũi với những người nhân đức để học tập họ.
    Khi thực hiện những điều trên rồi mà vẫn còn dư thời gian, tinh thần
    và sức lực thì mới có thể học các loại học vấn, văn hóa.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    31

    Câu chuyện tham khảo:

    Vua Thuấn Ông tổ của đạo đức
    Vua Thuấn là một trong Ngũ Đế thời
    thượng cổ, ông họ Diêu, tên là Trọng
    Hoa, hiệu là Ngu Thị, sử sách gọi ông
    là Ngu Thuấn.

    Vua Thuấn. (Ảnh: wikimedia)

    K

    hi Thuấn còn rất nhỏ thì
    mẹ qua đời, người cha là Cổ
    Tẩu (nghĩa là Ông Mù) bị mù
    hai mắt lấy vợ kế, sinh được người
    em tên là Tượng. Cha của Thuấn là
    người ngoan cố không đếm xỉa gì
    đến nghĩa lý, cộng thêm mẹ kế tính

    tình hung dữ thô bạo, em trai ngang
    ngược. Mẹ kế và Tượng được Cổ Tẩu
    sủng ái, 3 người đều ghét Thuấn,
    thường xuyên nghĩ cách hạ sát ông.
    Một lần, Cổ Tẩu gọi Thuấn sửa
    kho thóc, đợi đến khi Thuấn leo lên
    đỉnh kho, Cổ Tẩu liền châm lửa đốt
    kho thóc. Thuấn cầm hai cái nón lá
    như con chim nhỏ hạ xuống, Cổ Tẩu
    không thể hại chết được ông.
    Sau này, Cổ Tẩu lại bảo Thuấn đi
    đào giếng. Khi Thuấn ở sâu trong
    giếng, Cổ Tẩu và Tượng hợp sức lấp
    đất vào giếng. Tượng vốn cho rằng
    lần này không thể có sơ suất, sẽ độc
    chiếm gia sản của Thuấn. Không ngờ
    Thuấn rất thông minh, khi đào giếng
    đã đào trước một đường thông ở bên
    nên đã thoát được ra ngoài. Khi thấy
    Thuấn trở về nhà, mọi người sợ hãi
    lắm. Nhưng Thuấn khoan hồng độ
    lượng vẫn dùng đức báo oán, vẫn
    hiếu kính cha mẹ, yêu thương em
    trai như cũ.
    Người xưa nói: “Trăm nết hiếu
    đứng đầu” (nguyên văn: Bách thiện
    hiếu vi tiên). Năm 20 tuổi, Thuấn nổi
    tiếng khắp thiên hạ bởi hiếu hạnh.
    Năm Thuấn 30 tuổi, vua Nghiêu tìm
    người hiền tài, quần thần khắp nơi
    đều tiến cử Thuấn.
    Vua Nghiêu đã gả con gái là Nga
    Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn, đồng
    thời cho 9 người con trai sống cùng
    với Thuấn để quan sát phẩm đức của
    Thuấn. Nga Hoàng, Nữ Anh đều được
    đức hạnh của Thuấn cảm hoá, không
    dám vì thân phận tôn quý mà có thái
    độ kiêu căng ngạo mạn, đối xử với
    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    32

    Đức hiếu thuận của Thuấn làm cảm động cả trời cao.
    (Ảnh minh hoạ: epochtimes.com)

    mọi người đều vô cùng khiêm tốn
    cung kính. 9 người con trai của vua
    Nghiêu được Thuấn cảm hóa thấm
    nhuần một cách vô tri vô giác, cũng
    đã trở thành những người nhân hậu
    cẩn thận.
    Thuấn đến núi Lịch Sơn cày ruộng,
    người vùng đó chịu ảnh hưởng của
    Thuấn cũng trở nên tấm lòng rộng
    mở, nhường đất làm địa giới ruộng.
    Thuấn đến đầm Lôi Trạch bắt cá,
    người Lôi Trạch tranh nhau nhường
    nơi ở. Thuấn đến bên sông Hoàng Hà
    làm gốm, đồ gốm ở đó làm ra đều trở
    nên vô cùng tinh tế. Mọi người đều
    thích sống cùng với Thuấn. Do đó,
    những nơi mà ông ở thì chỉ một năm
    trở thành thôn làng, 2 năm thành
    thị trấn, 3 năm thành đô thị lớn. Trải
    qua khảo sát, vua Nghiêu vô cùng hài
    lòng, đã truyền ngôi vua cho Thuấn.
    Vua Thuấn đặc biệt chú trọng giáo
    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    dục đạo đức, ông tuyên dương giáo
    dục ngũ thường: cha nhân nghĩa, mẹ
    nhân từ, anh hiền từ, em cung kính,
    con hiếu thuận (nguyên văn: phụ
    nghĩa, mẫu từ, huynh hữu, đệ cung,
    tử hiếu). Ông thúc đẩy đạo đức nhân
    luân, khai sáng nền đạo đức truyền
    thống các dân tộc Á Đông, trở thành
    mẫu mực cho muôn đời sau.

    Phụ chú
    - Tam Hoàng Ngũ Đế: Thời viễn cổ,
    vua Phục Hy, Thần Nông và Hoàng
    Đế gọi là Tam Hoàng. Các vua Hoàng
    Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường
    Nghiêu, Ngu Thuấn gọi là Ngũ Đế.
    Các văn hiến cổ ghi chép, Hoàng Đế
    là một trong Tam Hoàng, cũng đứng
    đầu Ngũ Đế.

    33

    1. Nguyên văn Đệ tử quy:
    弟 子 規 聖 人 訓 
    首 孝 弟 次 謹 信
    汎 愛 眾 而 親 仁 
    有 餘 力 則 學 文
    2. Âm Hán Việt:
    Đệ tử quy, Thánh nhân huấn
    Thủ hiếu đễ, thứ cẩn tín
    Phiếm ái chúng, nhi thân nhân
    Hữu dư lực, tắc học văn.
    3. Pinyin Hán ngữ:
    Dì zǐ guī, Shèng rén xùn
    Shǒu xiào tì, cì jǐn xìn
    Fàn ài zhòng, ér qīn rén
    Yǒu yú lì, zé xué wén.

    người có lòng nhân ái. Nhân
    nghĩa là lòng nhân từ khoan
    hậu, là đạo đức cơ bản yêu
    người, yêu vật.
    • Dư lực: tâm sức dư thừa.
    • Tắc: thì, thì mới
    • Học văn: nghiên cứu học vấn.
    Khổng Tử nói “Hành hữu dư
    lực, tắc dĩ học văn”, nghĩa là
    thực hành các việc trên mà
    còn dư tâm sức thì mới nghiên
    cứu học vấn. Ông chủ trương
    đức dục quan trọng hơn trí
    dục, phải trước tiên gây dựng
    nên phẩm đức tốt đẹp, vẫn còn
    thời gian thì mới học tập các
    học vấn khác.

    4. Chú giải:
    • Đệ tử: người con, người em,
    con em
    • Quy: quy phạm, phép tắc
    • Thánh nhân: Bậc cổ Thánh
    tiên hiền có phẩm đức cao
    siêu, nhân cách hoàn mỹ.
    • Huấn: Dạy bảo hướng dẫn
    • Thủ: đầu, quan trọng hàng đầu
    • Hiếu đễ: Hiếu thuận cha mẹ,
    tôn kính anh chị. Chữ đễ 弟
    còn viết là 悌, nghĩa là kính
    trọng thuận theo anh chị.
    • Thứ: quan trọng thứ nhì
    • Cẩn tín: cẩn thận thận trọng,
    thành thật giữ chữ tín.
    • Phiếm ái chúng: Yêu thương
    tất cả mọi người. Phiếm nghĩa
    là rộng rãi.
    • Nhi: mà lại, hơn nữa
    • Thân nhân: thân cận gần gũi
    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    35

    Ở NHÀ PHẢI HIẾU
    入則孝
    NHẬP TẮC HIẾU

    36

    Phép tắc người con - Bài 2

    Cha mẹ gọi

    (2)
    Cha mẹ gọi, trả lời ngay
    Cha mẹ bảo, làm lập tức
    Cha mẹ dạy, phải kính nghe
    Cha mẹ trách, phải tiếp nhận.

    Diễn giải:
    Khi cha mẹ có việc gọi thì chúng ta phải trả lời ngay, không được
    trì hoãn. Khi cha mẹ sai bảo làm việc thì chúng ta lập tức hành động,
    không được lười nhác. Những đạo lý cha mẹ dạy bảo hướng dẫn thì
    chúng ta phải cung kính lắng nghe, ghi nhớ trong tâm. Những lỗi
    lầm mà cha mẹ trách mắng, uốn nắn thì chúng ta phải nghe theo,
    tiếp nhận, thẳng thắn thừa nhận lỗi lầm, không được cãi lại, tranh
    cãi, không được che giấu lỗi lầm.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    37

    Câu chuyện tham khảo:

    Chu Bạt ngỗ nghịch
    với cha mẹ bị đọa
    thành lừa
    Chu Bạt là người huyện Bình Dương,
    tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, từ nhỏ
    đã là một tiểu Thần đồng, sách đã xem
    qua là ghi nhớ, 7 tuổi đã biết ngâm thơ
    làm văn. Năm 16 tuổi thơ văn Chu Bạt
    đã nổi tiếng, được ca ngợi là 'tài tử
    Bình Dương'. Bởi vì được mọi người
    ca ngợi, được cha mẹ sủng ái, Chu Bạt
    càng ngày càng cuồng vọng tự cao tự
    đại, không coi ai ra gì. Cha mẹ, anh
    em và hàng xóm của Chu Bạt thường
    xuyên phải nhẫn chịu những cơn
    nóng nảy tức giận của anh.

    M

    ột năm, Chu Bạt phải lên
    kinh dự thi. Để lo lộ phí
    cho Chu Bạt, cha mẹ anh đã
    phải đôn đáo ngược xuôi vay mượn,
    còn mời thợ may may cho anh bộ y

    phục mới. Nhưng Chu Bạt không biết
    đủ, chê lộ phí quá ít, chê y phục quá
    rộng, chê quần quá dài, che mũ kiểu
    dáng cũ kỹ, chê giày màu sắc quá
    đậm. Bao vất vả khổ tâm của cha mẹ
    lại được báo đáp bằng nỗi oán hận
    của Chu Bạt.
    Cha mẹ không nhẫn nhịn nổi đã
    dạy bảo anh rằng: “Con à, con không
    được chê cái này chê cái kia, con
    phải biết vì con đi thi lần này, giúp
    con lo lộ phí, may quần áo mới, cha
    mẹ đã vắt óc suy nghĩ, khiến đầu đã
    bạc hết cả rồi, mà con vẫn chưa biết
    hài lòng như thế này, cha mẹ cũng
    đã hết cách rồi”.
    Những lời nói này của cha mẹ
    cũng chẳng khiến Chu Bạt động
    lòng, trái lại Chu Bạt gầm thét lớn
    rằng: “Tôi là Văn Xương tinh ở trên
    Trời hạ xuống phàm trần, là một đại
    quý tử. Các người là ông bà già quê
    mùa như bao cỏ kia, có tư cách làm
    cha mẹ của tôi không?”.
    Cha Chu Bạt bị làm cho tức giận
    đến nỗi ngất ngay tại chỗ.
    Đêm hôm đó, Chu Bạt bị bắt đến Âm
    phủ. Diêm Vương nói với anh rằng:
    “Ngươi thường ngày ngỗ nghịch với
    cha mẹ, tuy có cái vỏ thân xác con
    người nhưng lại là lòng dạ của súc
    sinh, hạt giống súc sinh trong tâm địa
    đã kết quả rồi, ngươi sẽ phải mất đi cái
    thân người mà đọa thành súc sinh”.
    Chu Bạt biện giải: “Con đối với
    cha mẹ chỉ là đúng lý mà nói trực
    ngôn, sao lại tính là ngỗ nghịch bất
    hiếu được? Hơn nữa con là một tài
    tử thông minh tuyệt đỉnh, sao có thể
    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    38

    biến thành súc sinh ngu ngốc được?
    Lời nói của Ngài không khiến con
    tín phục”.
    Diêm Vương hiền từ giải thích:
    “Ngươi đời này thông minh là do
    đời trước có thiện hạnh. Nhưng đời
    này những ác hạnh của ngươi như
    bừa bãi cuồng vọng, ngạo mạn vô
    lễ, nóng nảy, ngỗ nghịch… đã nuôi
    dưỡng hạt giống súc sinh; hạt giống
    thiện lương đời trước đã bị hủy
    hoại hết rồi. Ngươi cuồng vọng đến
    mức không coi ai ra gì, báo ứng của
    ngươi sẽ là đọa xuống thành lừa, bị
    mọi người bịt mắt kéo cối xay, chịu
    roi vọt”.
    Chu Bạt nghe xong cảm thấy rất có
    đạo lý, tự biết mình sẽ bị ác báo khó
    mà thoát được, kinh hoàng tỉnh dậy.
    Hôm đó liền mắc bệnh hiểm nghèo,
    mở miệng ra rất khó khăn, hai hàm
    răng ngậm chặt lại, cổ họng phát ra
    tiếng lừa kêu. Các danh y đều không
    thể nào chẩn đoán ra bệnh gì, không
    đến 2 ngày, Chu Bạt chết trong lúc kêu
    thét như lừa.

    (Nguồn: “Án thất đăng” đời Thanh)

    Phụ chú
    - Lừa kéo cối xay: Khi lừa kéo cối
    xay, nếu nhìn thấy thức ăn trên cối
    xay sẽ khiến nó muốn ăn mà dừng
    lại, không chịu kéo cối xay nữa, do đó
    phải bịt hai mắt nó lại.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    1. Nguyên văn Đệ tử quy:
    父 母 呼 應 勿 緩 
    父 母 命 行 勿 懶
    父 母 教 須 敬 聽 
    父 母 責 須 順 承
    2. Âm Hán Việt:
    Phụ mẫu hô, ứng vật hoãn
    Phụ mẫu mệnh, hành vật lãn
    Phụ mẫu giáo, tu kính thính
    Phụ mẫu trách, tu thuận thừa.
    3. Pinyin Hán ngữ:
    Fù mǔ hū,yìng wù huǎn
    Fù mǔ mìng,xíng wù lǎn
    Fù mǔ jiào,xū jìng tīng
    Fù mǔ zé,xū shùn chéng.
    4. Chú giải:
    • Hô: gọi
    • Ứng: trả lời, đáp lời
    • Vật: không được, chớ, đừng
    • Hoãn: chậm rãi, chậm chạp
    • Mệnh: mệnh lệnh, sai bảo
    • Hành: hành động, làm, thực
    hiện
    • Lãn: lười nhác, không nỗ lực
    • Giáo: dạy bảo hướng dẫn, răn dạy
    • Tu: phải
    • Kính thính: cung kính lắng nghe
    • Trách: Trách mắng, đòi hỏi
    • Thuận thừa: tiếp thu, nghe theo.

    39

    Phép tắc người con - Bài 3

    Đông ấm, hạ mát

    (3)
    Đông phải ấm, hạ phải mát
    Sáng phải thăm, tối phải viếng
    Đi phải thưa, về phải trình
    Sống quy củ, không thay đổi.

    Diễn giải:
    Mùa đông cần ủ ấm chăn chiếu cho cha mẹ, mùa hè cần quạt mát
    giường chiếu cho cha mẹ. Buổi sáng dậy phải hỏi thăm, vấn an cha
    mẹ, buổi tối phải sửa soạn chăn màn giường chiếu cho cha mẹ.
    Đi ra ngoài cần bẩm báo với cha mẹ, về nhà phải trình báo với cha
    mẹ. Sinh hoạt ăn ở ngủ nghỉ phải có quy luật, trật tự thường nhật
    không được tùy ý sửa đổi.

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    40

    Câu chuyện tham khảo:

    Hiếu hạnh với
    cha mẹ được biểu
    dương lên Hoàng đế
    Hoàng Hương là người Giang Hạ thời
    Đông Hán. Khi Hoàng Hương 9 tuổi
    thì mẹ cậu qua đời, cậu vô cùng nhớ
    thương mẹ, người làng đều nói cậu
    là một người con hiếu thảo.

    H

    oàng Hương làm việc rất
    chăm chỉ cần cù chịu khó,
    không sợ khổ, một lòng một
    dạ hiếu kính với cha, nghĩ mọi cách
    để cha được nghỉ ngơi, được thoải
    mái dễ chịu.
    Mùa hè nóng nực, muỗi nhiều,
    Hoàng Hương biết cha sợ nóng,
    thường không ngủ được, lại bị muỗi
    đốt. Do đó, mỗi buổi tối trước khi cha
    đi ngủ, Hoàng Hương đều dùng quạt
    quạt mát giường chiếu, xua đuổi muỗi
    đi rồi mới mời cha đi ngủ. Đến mùa
    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    Hoàng Hương quạt mát giường chiều rồi mới
    mời cha đi nghỉ.

    đông, trời lạnh giá, Hoàng Hương sợ
    cha bị giá rét nên đã nằm vào giường
    trước ủ ấm chăn chiếu, sau đó mới
    mời cha lên giường đi nghỉ.
    Sau đó, hiếu hạnh của Hoàng
    Hương truyền khắp kinh thành,
    không ai là không biết. Thái thú
    Giang Hạ nghe được chuyện này,
    cảm thấy thật là hiếm có, ông bèn
    dâng biểu lên Hoàng đế biểu dương
    nết hiếu hạnh của Hoàng Hương.
    Hoàng Hương còn nhỏ tuổi đã đọc
    thuộc các kinh điển, học rộng văn
    hay, văn chương của cậu nổi tiếng
    cả kinh thành, mọi người đều khen
    ngợi là: “Cậu bé Hoàng Hương, thiên
    hạ vô song”.

    (Nguồn: “Nhị thập tứ hiếu”)

    41

    Phụ chú
    1. Nguyên văn Đệ tử quy:
    冬 則 溫 夏 則 凊 
    晨 則 省 昏 則 定
    出 必 告 反 必 面 
    居 有 常 業 無 變
    2. Âm Hán Việt:
    Đông tắc ôn, hạ tắc sảnh
    Thần tắc tỉnh, hôn tắc định
    Xuất tất cáo, phản tất diện
    Cư hữu thường, nghiệp vô biến.
    3. Pinyin Hán ngữ:
    Dōng zé wēn,xià zé qìng
    Chén zé xǐng,hūn zé dìng
    Chū bì gào,fǎn bì miàn
    Jū yǒu cháng,yè wú biàn.

    4. Chú giải:
    • Sảnh: mát.
    • Tỉnh: thăm viếng, hỏi thăm.
    • Hôn: hoàng hôn, tối.
    • Định: an định, ở đây nghĩa là
    sắp xếp chuẩn bị giường chiếu.
    • Tất: nhất định, phải.
    • Phản: quay lại, trở về.
    • Diện: gặp mặt, gặp, diện kiến.
    • Cư: cư trú, chỉ lễ tiết sinh hoạt
    thường nhật.
    • Thường: cố định không thay đổi.
    • Nghiệp: thứ tự, trình tự.
    • Vô: chớ, không được.

    Cậu bé Hoàng Hương hiếu hạnh với cha mẹ được biểu dương lên Hoàng đế.
    (Ảnh minh hoạ trong bài từ NTD.com)
    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    42

    Phép tắc người con - Bài 4

    Việc nhỏ

    (4)
    Việc tuy nhỏ, chớ tự làm
    Nếu tự làm, thiếu đạo con
    Vật tuy nhỏ, chớ cất riêng
    Nếu cất riêng, cha mẹ buồn.

    Diễn giải:
    Sự việc tuy nhỏ mọn cũng không thể chưa bẩm báo rõ với cha mẹ
    mà đã tự tiện quyết định làm. Nếu cứ làm tùy theo ý mình là thiếu
    bổn phận của người làm con. Đồ vật tuy bé nhỏ cũng không được cất
    giữ riêng. Nếu chiếm làm của riêng sẽ khiến cha mẹ cảm thấy tủi hổ,
    đau lòng.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    43

    Câu chuyện tham khảo:

    Mẹ Đào Khản
    trả vại cá trách
    mắng con
    Phụ chú
    Đào Khản là danh tướng của Đông
    Tấn, cha mất sớm, thuở nhỏ gia cảnh
    nghèo khó. Mẹ Đào Khản là Trạm Thị
    dệt vải để cho con ăn học, bà rất coi
    trọng việc tu dưỡng phẩm đức của
    Đào Khản.

    1. Nguyên văn Đệ tử quy:
    事 雖 小 勿 擅 為 
    苟 擅 為 子 道 虧
    物 雖 小 勿 私 藏 
    苟 私 藏 親 心 傷

    K

    2. Âm Hán Việt:
    Sự tuy tiểu, vật thiện vi
    Cẩu thiện vi, tử đạo khuy
    Vật tuy tiểu, vật tư tàng
    Cẩu tư tàng, thân tâm thương.

    hi còn trẻ, Đào Khản làm
    huyện lại huyện Tầm Dương
    tỉnh Giang Tây, giám sát quản
    lý việc đánh bắt cá. Ông sai người
    tặng mẹ một vại cá khô muối, mẹ ông
    để nguyên vại cá trả lại, đồng thời
    viết thư trách mắng ông: “Con làm
    quan lại huyện phủ, lấy của công để
    tặng mẹ, cho rằng mẹ sẽ vui mừng
    sao? Như thế là làm tăng thêm nỗi lo
    lắng của mẹ đó”.
    Từ đó, những nơi mà Đào Khản
    đến, ông đều được người dân ca
    ngợi bởi sự liêm khiết, trong sạch
    và tận tâm làm hết trách nhiệm.
    Sau này, ông làm Chinh Tây đại
    tướng quân, được phong làm Quận
    công Trường Sa.

    3. Pinyin Hán ngữ:
    Shì suī xiǎo,wù shàn wéi
    Gǒu shàn wéi,zǐ dào kuī
    Wù suī xiǎo,wù sī cáng
    Gǒu sī cáng,qīn xīn shāng.
    4. Chú giải:
    • Thiện: tự ý chủ trương, làm tùy
    tiện theo ý mình.
    • Cẩu: nếu, nếu như.
    • Tử đạo: đạo làm con. Đạo ở đây
    nghĩa là đạo lý, phép tắc.
    • Khuy: tổn hao, thiếu, khiếm
    khuyết.
    • Tư tàng: cất giữ riêng, chiếm
    làm của riêng.
    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    44

    Phép tắc người con - Bài 5

    Cha mẹ ghét

    (5)
    Cha mẹ thích, dốc lòng làm
    Cha mẹ ghét, cẩn thận bỏ
    Thân tổn thương, cha mẹ lo
    Đức tổn thương, cha mẹ tủi
    Cha mẹ thương, hiếu đâu khó
    Cha mẹ ghét, hiếu mới hay.

    Diễn giải:
    Những sự vật hoặc hành vi mà cha mẹ yêu thích, là người làm con
    vì cha mẹ thì phải dốc hết sức làm được. Những sự vật hoặc hành
    vi mà cha mẹ không thích, là người làm con vì cha mẹ thì phải cẩn
    thận bài trừ, cẩn thận sửa chữa quy chính.
    Thân thể người con bị thương sẽ làm cho cha mẹ buồn rầu lo lắng.
    Phẩm đức người con bị tổn hao sẽ khiến cha mẹ tủi nhục.
    Cha mẹ yêu thương mình, mình hiếu thuận với cha mẹ thì có gì là
    khó? Cha mẹ ghét bỏ mình, mình vẫn hiếu thuận với cha mẹ, đó mới
    là người hiền có phẩm đức cao thượng thực sự.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    45

    Câu chuyện tham khảo:

    Mẫn Tử Khiên
    mặc áo hoa lau
    hiếu thuận với mẹ
    Mẫn Tổn tên tự là Tử Khiên, người
    nước Lỗ thời Xuân Thu (triều nhà
    Chu), là đệ tử của Khổng Tử. Đức
    hạnh Tử Khiên nổi tiếng sánh vai
    với Nhan Uyên, ông cũng là một
    trong 24 tấm gương hiếu hạnh.

    Tử Khiên. Mùa đông giá rét, cha Tử
    Khiên bảo cậu giúp ông đánh xe,
    Tử Khiên bị rét cứng tay chân, cầm
    không nổi dây cương, mấy lần đánh
    rơi dây cương. Bị cha trách mắng,
    cậu vẫn không biện hộ giải thích.
    Sau đó, cha cậu thấy cậu bị lạnh
    đến mức mặt xanh xám tái nhợt.
    Ông sờ lên áo rét của cậu mới phát
    hiện ra áo rất mỏng. Ông xé áo ra
    xem mới biết không phải là áo bông,
    mà áo rét của hai người con của mẹ
    kế lại toàn là bông tinh chất. Cha
    ông cảm thấy vô cùng đau buồn,
    quyết định bỏ vợ.
    Tử Khiên khóc như mưa khuyên
    cha: “Mẹ còn thì chỉ một người con
    bị lạnh, mẹ đi thì cả 3 người con côi
    cút”. Mẹ kế nghe thấy vô cùng cảm
    động, cuối cùng hối cải, đối đãi với
    cả 3 người con như một người mẹ
    hiền từ. Danh tiếng người con hiếu
    hạnh của Mẫn Tử Khiên cũng từ đó
    mà lan truyền khắp thiên hạ.

    Mẫn Tử Khiên kéo xe giúp cha.
    (Ảnh minh hoạ: epochtimes.com)

    K

    hi còn nhỏ, Mẫn Tử Khiên đã
    mồ côi mẹ, cha tái hôn, mẹ
    kế sinh được hai em trai. Tử
    Khiên vô cùng hiếu thuận với cha
    mẹ, nhưng mẹ kế lại rất ghét cậu.
    Bà dùng bông làm áo rét cho hai con
    đẻ, và dùng hoa lau làm áo rét cho

    Mẫn Tử Khiên khuyên cha bỏ qua cho người
    mẹ kế. (Ảnh: sohu.com)

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    46

    Phụ chú
    24 tấm gương hiếu hạnh (Nhị thập
    tứ hiếu):
    Quách Cư Kính là một người con
    hiếu hạnh nổi tiếng triều Nguyên.
    Ông cảm thán rằng không còn cơ hội
    để hiếu thuận với cha mẹ đã mất, bèn
    lựa chọn những câu chuyện của 24
    người con hiếu hạnh tiêu biểu nhất
    được lưu truyền trong các sách cổ,
    biên soạn thành sách “Nhị thập tứ
    hiếu” (24 tấm gương hiếu hạnh), gồm
    có: Ngu Thuấn, Hán Văn Đế, Tăng Sâm
    triều Chu, Mẫn Tổn triều Chu, Tử Lộ
    triều Chu, Đổng Vĩnh triều Hán, Đàm
    Tử triều Chu, Giang Cách triều Hậu
    Hán, Lục Tích triều Hậu Hán, Đường
    Phu Nhân triều Đường, Ngô Mãnh
    triều Tấn, Vương Tường triều Tấn,
    Quách Cự triều Hán, Dương Hương
    triều Tấn, Chu Thọ Xương triều Tống,
    Canh Kiền Lâu triều Nam Tề, Lão Lai
    Tử triều Chu, Thái Thuận triều Hán,
    Hoàng Hương triều Hán, Khương Thi
    triều Hán, Vương Bầu nước Ngụy thời
    Tam Quốc, Đinh Lan triều Hán, Mạnh
    Tông thời Tam Quốc, Hoàng Đình Kiên
    triều Tống.
    1. Nguyên văn Đệ tử quy:
    親 所 好 力 為 具 
    親 所 惡 謹 為 去
    身 有 傷 貽 親 憂 
    德 有 傷 貽 親 羞
    親 愛 我 孝 何 難 
    親 憎 我 孝 方 賢
    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    2. Âm Hán Việt:
    Thân sở hiếu, lực vị cụ
    Thân sở ố, cẩn vị khứ
    Thân hữu thương, di thân ưu
    Đức hữu thương, di thân tu
    Thân ái ngã, hiếu hà nan
    Thân tăng ngã, hiếu phương hiền.
    3. Pinyin Hán ngữ:
    Qīn suǒ hào,lì wèi jù
    Qīn suǒ wù,jǐn wèi qù
    Shēn yǒu shāng,yí qīn yōu
    Dé yǒu shāng,yí qīn xiū
    Qīn ài wǒ,xiào hé nán
    Qīn zēng wǒ,xiào fāng xián.
    4. Chú giải:
    • Thân: cha mẹ, phụ thân và mẫu
    thân
    • Hiếu: thích
    • Lực: dốc sức, hết sức
    • Cụ: đủ, chuẩn bị đủ
    • Ố: ghét
    • Cẩn: cẩn thận
    • Khứ: trừ bỏ
    • Di: để lại, lưu lại
    • Ưu: lo lắng ưu sầu
    • Tu: xấu hổ, hổ thẹn, mất mặt,
    mất thể diện
    • Hà nan: có gì khó đâu? Hà có
    nghĩa là vì sao, sao
    • Tăng: ghét
    • Phương: mới, thì mới
    • Hiền: hiền lương, phẩm đức
    cao thượng.

    47

    Phép tắc người con - Bài 6

    Cha mẹ lỗi

    (6)
    Cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi
    Mặt ta vui, lời ta dịu
    Khuyên không nghe, vui can tiếp
    Dùng khóc khuyên, đánh không giận.

    Diễn giải:
    Cha mẹ có lỗi lầm thì phải cố gắng khuyên can để cha mẹ sửa
    chữa, quy chính, bản thân mình cần phải có vẻ mặt hòa nhã vui vẻ,
    nói năng dịu dàng. Cha mẹ không nghe lời khuyên can thì phải đợi
    đến khi cha mẹ vui rồi khuyên can tiếp, nếu vẫn chưa được thì khóc
    lóc cầu xin, cho dù bị cha mẹ đánh cũng không hề có một lời oán hận.

    ĐẠI KỶ NGUYÊN

    48

    (Ảnh minh hoạ: NTD.com)

    Câu chuyện tham khảo:

    Tú Trinh khuyên
    mẹ cứu em gái
    Vào thời nhà Minh, mẹ của Dương
    Tú Trinh sinh liền 3 người con gái,
    không có con trai. Sinh người con
    thứ 4 cũng vẫn là gái. Bà tức giận
    lắm, muốn dìm chết đứa trẻ sơ sinh.

    PHÉP TẮC NGƯỜI CON (ĐỆ TỬ QUY)

    K

    hi đó Dương Tú Trinh 13 tuổi,
    cô vội vàng chạy đến ôm lấy
    em gái rồi quỳ xuống cầu xin
    mẹ: “Mẹ à, vì con trai mà sát hại con
    gái thì càng không thể có được con
    trai đâu. Nếu mẹ phiền não vì phải lo
    của hồi môn sau này thì hãy lấy con
    làm của hồi môn cho em gái này”.
    Bà nội chửi cô không hiểu sự đời,
    Tú Trinh...
     
    Gửi ý kiến

    Chẳng có người bạn nào thầm lặng và chung thủy như sách. Chẳng có cố vấn nào thông thái vượt bậc hơn sách. Sách là người thầy kiên nhẫn nhất cuộc đời con người chúng ta.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS THỦY CHÂU, THỊ XÃ HƯƠNG THỦY - TP. HUẾ!