BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

VI DEO GIỚI THIỆU SÁCH THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    VIET_NAM_MAU_3.jpg Larger_hqe1403055122.jpg Untitled.png CangBien.jpg

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Văn hóa dân gian các dân tộc ít người ở Thừa Thiên Huế (Song ngữ Việt - Tà Ôi, Việt - Cơ Tu)(Quyển 1)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 07h:48' 18-03-2024
    Dung lượng: 129.8 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Ệ DÂN GIAN VIỆT NAM
    s ủ ư (Chủ biên)
    TRÀN NGUYỄN KHÁNH PHONG
    TRIÈƯ .NGUYÊN

    VĂN HÓA DÂN GIAN
    CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
    Ở THỪA THIÊN HUÊ
    (SONG NGŨ V I Ệ T - T A Ôl, V I Ệ T - C O TU)

    (Quyển 1)

    Qj] NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA TH Ô N G TIN

    VÃN HỌC DÂN GIAN
    CÁC DÂN TỌC ÍT NGƯỜI
    ở t h ừ À t h iên huế
    (SONG N G Ữ VIỆT- TA ÔI, VIỆT - c o TU)

    (Quyển 1)

    Hội VẢN NGHỆ DÂN GIAN VIỆT NAM
    KÊ SỬU (Chủ biên)
    TRẦN NGUYÊN KHÁNH PHONG
    TRIÈU NGUYÊN

    VAN HỌC DAN GIAN
    CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
    Ở THỪA THIÊN HƯÉ
    ( S O N G N G Ữ V I Ệ T - TA ÔI, V I Ệ T - co TU)
    (Quyển 1)

    NHÀ XUÁT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN

    D ự ÁN CÔNG BÓ, PHỐ BIÉN
    TÀI SẢN VÃN HÓA, VĂN NGHỆ DÂN GIAN
    VIỆT NAM
    ( E 1, Ngõ 29, Tạ Quang Bửu - Bách Khoa - Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3627 6439; Fax: (04) 3627 6440
    Email: duandangian@gmail.com)

    BAN CHỈ ĐẠO
    1. GS. TSKH. TÔ NGỌC THANH

    Trưởng ban

    2. ThS. HUỲNH VĨNH ÁI

    Phó Trưởng ban

    3. GS.TS. NGUYẺN XUÂN KÍNH
    4. TS. TRÀN HỮU SƠN

    Phó Trướng ban
    Uy viên

    5. Ông NGUYÊN KIÉM

    Uy viên

    6. Nhà văn ĐỎ KIM CUÔNG

    Uy viên

    7. ThS. VŨ CỒNG HỘI

    Uy viên

    8. Nhà giáo NGUYÊN NGỌC QUANG Uy viên
    9. ThS. ĐOÀN THANH NỒ

    Uy viên

    10. Ồng TRƯƠNG THANH HÙNG

    Uy viên

    GIÁM ĐÓC VĂN PHÒNG DỤ ÁN
    ThS. ĐOÀN THANH NÔ

    Chịu trách nhiệm nội dung:
    GS.TSKH. TÔ NGỌC THANH
    Tlíẩm định nội dung:
    HỘI ĐÒNG THAM ĐỊNH BẢN THAO

    LỜI GIỚI T H IỆ U

    Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (VNDGVN) là một
    tô chức chính trị xã hội nghê nghiệp, năm trong khôi Liên
    hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.
    Quyết định số 82/NV, ngày 01/03/1967 của Bộ Nội vụ
    thay mặt Chính phú đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian
    thành lập và hoạt động trên phạm vi toàn quốc và có mối
    liên hệ nghề nghiệp với các tổ chức khác ở trong nước và
    nước ngoài.
    Tôn chi mục đích của Hội là “ Suu tầm, nghiên cứu,
    phô biến và truyền dạy vốn văn hóa - văn nghệ dân gian
    các tộc nguòi Việt Nam” . Trên cơ sơ thành qua của các
    công việc trên, Hội là một trong những đội quân chủ lực
    góp phần bảo tôn và phát huy những giá trị văn hóa - văn
    nghệ mang đậm ban sắc dân tộc đã được ông cha ta sáng tạo
    và giữ gìn trong suốt mấy nghìn năm của lịch sử dân tộc.
    Những giá trị sáng tạo đó thê hiện mối quan hệ của các
    tộc người Việt Nam với thiên nhiên thông qua các tri thức
    san xuất nông nghiệp; với xã hội thông qua phong tục tập
    quán, hội xuân; với nhàn sinh quan thông qua các nghi lễ
    vòng đời người; với vũ trụ và thế giới tự nhiên đã được
    siêu nhiên hóa thông qua các loại hình tín nsuờns tôn giáo;
    9

    với lý tường thẩm mỳ thông qua các sáng tạo văn học nghệ
    thuật. Ỏ mỗi tộc người Việt Nam, những lĩnh vực và hình
    thái văn hóa - văn nghệ này lại được the hiện trong một sắc
    thái riêng. Chính kho tàng văn hóa đa dạng đó là nội dung,
    là đối tượng hoạt động của hội viên Hội VNDGVN.
    Sau gần 50 năm hoạt động, được sự lãnh đạo của Đảng
    và sự chăm sóc của Nhà nước, Hội VNDGVN đã lớn mạnh
    với trên 1.200 hội viên, số công trình do hội viên của Hội
    đã hoàn thành lên đến 5000 công trình, hiện đang được lưu
    giữ và bảo vệ tại Văn phòng Hội.
    Được sự quan tâm của Ban Bí thư và Thủ tướn? Chính
    phủ, Dự án “ Công bố và phố biến tài sản văn hóa - văn
    nghệ dân gian các dân tộc Việt N am ” đã được phê duyệt.
    Trong giai đoạn I (2008 - 2012), Dự án đã xuất bản 1.000
    công trình, tác phẩm văn hóa - văn nghệ dân gian các dân
    tộc; Giai đoạn II (2013 - 2017) Dự án sẽ tiếp tục công bố
    thêm 1.500 công trình nữa.
    Hy vọng, các xuất bản phẩm của Dự án sẽ cung cấp cho
    bạn đọc trong và ngoài nước một bộ sách mang tính chất
    bách khoa thư về các sắc màu văn hóa của các tộc người
    Việt Nam, phục vụ thiết thực vào việc tra cứu, mở rộng
    hiểu biết của bạn đọc về truyền thống văn hóa giàu có và
    độc đáo đó; góp phần xây dựng nền "'văn hóa Việt Nam
    tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” .
    Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Dự án mong nhận
    được ý kiến chỉ bảo kịp thời của bạn đọc gần xa.
    Xin chân thành cảm ơn!
    Trưởng Ban Chi đạo thực lĩiện D ự án
    G S.TSK H. Tô Ngọc T hanh
    10

    LỜI NÓI Đ Ầ U

    Một công trình nghiên cứu của nhóm dân tộc học
    Trường Đại học Tổng hợp Huế, do Nguyễn Quốc Lộc chủ
    biên là Các dân tộc ít người ớ Bình Trị Thiên (Nxb. Thuận
    Hoá, Huế, 1984), có nêu “Danh mục các thành phần dân
    tộc tinh Bình Trị Thiên (xếp thứ tự theo dân số) là: 1) Kinh
    (bao gồm người Nguồn ở Tuyên Hoá); 2) Vân Kiều (có các

    nhóm Vân Kiều, Trì, Ma Coong, Khùa, Pa Hi); 3) Tà Ôi
    (Nhóm sưu tầm, biên soạn sách này gọi là Ta Ôi); 4) Cơ
    Tu; 5) Chút (gồm các nhóm Sách, Rục, Arem)” (tr. 45).
    Cũng theo công trình này, thì Pa Cô là một tên gọi khác
    (tên phiếm xưng) của Ta Ỏi (tr. 43). Địa bàn sinh sống
    chú yếu của người Vân Kiều và người Chúrt là Quảng Trị,
    Quảng Bình; địa bàn sinh sống chủ yếu của người Ta Ôi và
    người Cơ Tu là Thừa Thiên Huế (người Cơ Tu sống đông

    hơn ở các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Trà Mi,
    Bắc Trà Mi và Phước Sơn thuộc Q u à n g Nam). Như vậy,
    nói văn học dân gian các dân tộc ít người ở Thừa Thiên
    Huế. là nói đến hai bộ phận: văn học dân gian dân tộc Ta
    Ồi và văn học dân ẹian dân tộc Cơ Tu.
    11

    Cho đến nay, có ít nhất là các công trình sưu tập sau,
    liên quan đến hai bộ phận văn học dân gian vừa nói (thứ tự
    theo thời điểm công bố):
    - Nguyễn Quốc Lộc (chủ biên), Nguyễn Hữu Thông,
    Nguyễn Thị Hoà, Truyện cô Tà Ói, Sở Văn hoá Thông tin
    Bình Trị Thiên xuất bản, 1985.
    - Mai Văn Tấn, Con voi thần (Truyện cổ Vân Kiều, Tà
    Ôi), Nxb. Thuận Hoá, Huế, 1996.
    - Ban Văn học Việt Nam, Nẹười lấy vợ đá (In theo bản
    Truyện cổ Tà Ôi, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1987),
    Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000.
    - Nguyễn Hữu Chúc và tgk., Truyện cổ cúc dân tộc
    miền núi Bắc miền Trung, Nxb. Thuận Hoá, Nxb. Nghệ
    An, Nxb. Thanh Hoá kết hợp xuất bàn, 2001.
    - Trần Nguyễn Khánh Phong, Nguyễn Thị Sứu, Truyện
    cổ Ta Ôi, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2005.
    - Trần Nguyễn Khánh Phong, Chàng Phuật Nà (Truyện
    cổ Tà Ôi, Cơ Tu), Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2006.
    - Trần Nguyễn Khánh Phong, Ta Dưr Tư, Truyện cổ Pa
    Cô, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2010.
    Có thể thấy ràng, về văn học dân gian của hai dân tộc
    đang bàn, truyện cổ là nổi trội và được các nhà sưu tầm
    chú ý trước tiên. Các thê loại văn học dân gian khác thuộc
    hình thức văn vần, như tục nsữ. ca dao, đồng dao, câu đố,...
    chưa thấy có công; trình dạne sách. Và với “truyện cổ” đã
    được quan tâm cũng cân phân định vê mặt thê loại: nhóm
    12

    truyện cổ thuộc thần thoại, thuộc truyền thuyết, truyện cồ
    tích, truyện ngụ ngôn,...
    Yêu câu về việc cần có công trình Văn học dân gian các
    dân tộc ít người ở Thừa Thiên Huế đưọc đặt ra, nhàm giải
    quyết tình hình trên. Bên cạnh đó, để đưa những sáng tạo
    văn học dân gian quay trở lại với cộng đồng, là cội nguồn,
    nơi xuất phát của chúng, lại phải nghĩ đến tiếng mẹ đẻ,
    ngôn ngừ sản sinh ra những tinh hoa ấy, vấn đề song ngừ
    giữa Việt ngừ và ngôn ngữ dân tộc liên quan cũng cần được
    thực hiện. Đó là những phần việc, đồng thời, cũng là đặc
    điểm mà công trình này có được.
    Đe tiến hành công việc, Nhóm sưu tầm, biên soạn gồm
    ba người, được phân công như sau (ghi phần việc chủ yếu):
    1) Kê Sửu (tên khai sinh là Nguyễn Thị Sửu): Chủ biên;
    sưu tầm tục ngữ, ca dao, một phần truyện cổ và dịch Ta Ôi
    - Việt, Cơ Tu - Việt toàn bộ công trình;
    2) Trần Nguyễn Khánh Phong: Sưu tầm một phần
    truyện cổ;
    3) Triều Nguyên: Hệ thống hoá các văn bản sưu tầm,
    viết khái luận.
    Neu việc sưu tầm văn học dân gian người Kinh phần
    lớn do các thế hệ sinh viên (chủ yếu là ba trường: Trường
    Đại học Khoa học Huế, Trường Đại học Sư phạm Huế, và
    Trường Cao đẳne Sư phạm Huế) thực hiện, thì việc sưu
    tầm văn học dân gian các dân tộc ít người lại do các nhà
    nghiên cứu đảm trách
    13

    Do lực lượng mòng, địa bàn rộng, lại có sự ngăn cách
    bởi bức tường ngôn ngữ, nên công việc sưu tầm đã tiêu tốn
    khá nhiều thời gian, công sức. Đến thời điểm này, Nhóm
    sưu tầm, biên soạn đã vượt qua các trở lực để hoàn thành
    tập sách, với 335 văn bản của năm thể loại: thần thoại,
    truyền thuyết, truyện cổ tích, tục ngữ, và ca dao. Tuy chưa
    được như mong muốn (số lượng văn bản văn học dân gian
    sưu tầm được có hạn, còn một số thể loại khác như truyện
    cười, câu đố, đồng dao,... vắng bóng), nhưng cũng góp
    phần nhất định vào công cuộc bảo tồn và phát huy các giá
    trị văn hoá tinh thần truyền thống của hai dân tộc Ta Ôi và
    Cơ Tu, đáp ứng yêu cầu đặt ra. Vả chăng, có thể xem đây
    như một phác thảo, hay cơ sở để có thể bổ sung, bồi đắp
    dần, khiến công trình sẽ hoàn thiện hơn trong tương lai.
    Trên tinh thần ấy, Nhóm sưu tầm, biên soạn xin chân
    thành cảm ơn về mọi sự giúp đỡ, cảm ơn Nhà xuất bản
    XXX đã cho công bố lần đầu tập sách, và mong mỏi bạn
    đọc góp ý để lần in sau được tốt hơn.

    14

    KHÁI LUẬN VÈ VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC
    DÂN TỘC ÍT NGƯỜI Ở THỪ A THIÊN HUÉ
    Sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ơ Thừa
    Thiên Huế (song ngữ Việt - Ta Ôi, Việt - Cơ Tu) chia làm
    hai phần Văn học dân gian dân tộc Ta Ỏi và Văn học dân
    gian dân tộc Cơ Tu.
    1. Người Ta Ôi là cư dân chủ thể của huyện A Lưới, làm
    nương rẫy, chủ yếu là trồng cây lương thực. Đồng bào sống
    với nhau thành từng veeln) (thường có một tên gọi riêng),
    mồi vee! gồm khoảng vài chục nóc nhà (dung), bên cạnh
    đó, còn có các chòi (xu) dùng để canh rầy. Một kiến trúc
    công cộng cua toàn veel đáng chú ý !à trap kammooch
    (nhà ma), nơi tập trung nhiều công trình điêu khắc, trang
    trí mĩ thuật, có cột lớn, mái lợp bằng mây hoặc ống lồ ô rọc
    hai nửa, đặt úp ngửa. Trap kammooch được dựng ở một
    địa thế đẹp, nam ngoài rìa veel. dùng làm nơi sinh hoạt
    (1) Đê thống nhất cách ghi âm. tự, Nhóm biên soạn, sưu tầm dựa
    vào bàn điên chê ngữ âm năm 1986 của Viện Ngôn ngữ học
    Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Binh Trị Thiên in thành
    “Sách học tiếng Pakô - Ta ô i ” (với tiếng Ta Ôi) và "Sách học
    tiếng Cơ Tu” (với tiếng Cơ Tu).

    15

    cua toàn veel trong nhữ ng dịp tan g ma, lề cai táng
    (eal kammooch), các ngày hội, lễ tiết,...
    Ngày trước, khi sản phẩm dệt còn hiếm hoi, đồng bào
    Ta Ôi thường ở trần, đóng khố hoặc mang một loại váy
    ngắn, gọi là amâng, được làm bằng vỏ cây abâi ngâm nước
    dập dẹp và kết lại. Đồ trang sức chính của đồng bào là các
    loại vòng bạc, vòng đồng, cườm, đá quý,... ờ một số cụ già
    còn có vòng tay, vòn? chân bằng đồng đỏ, làm theo dạng lò
    xo xoẳn, vấn quanh cánh tay hay ống chân. Tục cưa răng,
    xăm mình hay căng tai ngoài ý nghĩa về mặt tín ngưỡng,
    phong tục, còn thế hiện quan niệm thấm mĩ cùa rmười Ta
    Ôi. Các thành viên đến tuổi trưởng thành đều chịu tục xăm
    inình và cưa răng. Con trai thì xăm hình con hổ (mbăr), con
    diều (kalang avăk) tượng trưng cho sức khoẻ, hình trái núi
    (pile kooh) tượng trưng cho cảnh quan và nơi cư trú, hình
    một loại cây lá thơm dễ sống tượng trưng cho sức bền bỉ
    và ý chí tinh thần; con gái thì xăm hình cây abong với một
    sợi dây leo quấn quanh, tượng trưng cho sự trong sạch của
    bản thân và sự bảo vệ, che chở của veel; con trai hay con
    gái đều xăm hình chừ thập (déng katténg) tượng trưng cho
    lòng nhân từ, cố kết cộng đồng, duy trì nòi giống đế mãi
    trường tồn...
    Theo huvểt tộc, người Ta Ôi có các tổ chức yaq (dòng
    họ), mồi yaq có xuất yaq (trưởng yaq), đại diện cho yaq
    trong quan hệ với các thành viên của yaq và với toàn veel.
    Yaq có thể mang tên gọi của một động vật, thực vật hay
    đồ vật, như yaq Acho (con chó), yaq Plăng (co tranh), yaq
    Apãl (cối giã gạo).... Dưới yaq là toop (hay chum), thường
    16

    sống trong cùng một veel (người cùng yaq lắm khi sinh
    sống ở các veel khác nhau), dưới toop là kattooh, gồm
    những thành viên có quan hệ máu mủ gần gũi nhất.
    Nam nữ Ta Ôi đến tuổi trưởng thành được tự do tìm
    hiểu nhau trong những dịp đi sim (vơâch xu). Phong tục
    quy định, những laleéu (trai chưa vợ) và kammoor (gái
    chưa chồng) sau giờ làm việc có thê theo nhau vào rừng
    hoặc ra bờ sông, suối, ở các chòi (kot) dựng sẵn để trao đôi
    tâm tình. Sau khi đôi nam nừ đã cảm thông nhau, họ trao
    quà làm tin và người con trai sẽ báo với cha mẹ để nhờ ông
    mai bà mối đến nhà gái đặt vấn đề. Neu được chấp thuận,
    hai bên sẽ tiến hành lề hỏi (vơâch seak ideal). Ở lễ này, nhà
    trai sẽ mang đến cho nhà gái một số của cải như vòng đặc,
    chuỗi cườm, rượu nếp. Vào lễ cưới (dóng ikon), có nhiều
    sính lễ quý như chiêng, ché, nồi đồng, trâu, bò, dê lợn, lúa,
    nếp,... được nhà trai đưa đến để xin dâu.
    Do tục thách cưới nặng nề nên trước đây có không ít
    trường hợp những chàng mồ côi hay nghèo khô phải chịu
    đơn độc, ngược lại, cũng có người giàu có cưới đưọc
    nhiều vợ(l).
    Văn học dân gian của neười Ta ô i hiện sưu tầm được
    gồm năm thể loại: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích,
    tục neữ và ca dao.
    (1) Việc giới thiệu khái quát về người Ta Ôi vừa nêu. cũng như về
    người Cơ Tu ở dưới, viết dựa theo: Nguyễn Quốc Lộc và tgk.
    Các dân tộc ít người ớ Bình Trị Thiên, Nxb. Thuận Hoá.
    Huế, 1984.

    1.1.
    Thần thoại Ta Ôi chủ yếu thuộc loại thần thoại suy
    nguyên, là những thần thoại nhằm giải thích nguồn gổc con
    người và một số sự vật, hiện tượng tự nhiên. Có hai mô
    tip đáng chú ý: mô tip “quả bầu mẹ” và mô tip “quả trứng
    thần” .
    Sở dĩ nói “quả bầu mẹ”, vì đó là quả bầu sinh nở. Quả
    bầu ấy sinh ra người: “Mùa xuân đến, khí trời ấm áp trở
    lại. Cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, hương hoa thơm ngát rừng.
    Đúng lúc này, quả bầu bồng vỡ ra, và con người từ lòng nó
    vươn dậy” (Sự tích quả bầu mẹ). Đồng thời, nó cũng sinh
    ra những giống lúa tốt để con người trồng trọt: “Kallong
    Koq lấy mười quả bầu từ mười cái trui đem ra cắt đầu thì
    từ trong quả bầu chảy ra mười loại gạo rẫy thơm ngon
    nhất, đó là gạo rayư, kuya, trưi, pinhe, kupva, tréq, amék,
    kuhom, atut, deep...” (Apok Sâu Arâu Koonh).
    Hình tượng quả bầu có thể được hình thành từ tâm thức
    của người Ta Ôi qua việc đây là vật đựng hạt giống, được
    cất giữ cẩn thận, đó là nơi của sự trông mong, hi vọng. Khi
    giải thích nguồn gốc các tộc người, quả bầu ấy do chó sinh
    ra. Nếu xem con người và các loài động vật là ngang bậc
    (như truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích từng làm), thì cái lí
    của vấn đề là động vật sinh ra động vật. Điều này sẽ thích
    ứng khi kể quả bầu sinh ra các giống gạo ngon được trồng
    trọt mà thành (chứ không phải được người hay vật đẻ ra).
    Cả Sự tích quả bầu mẹ và Nguồn gốc cùa người Ta Oi
    (I và II) đều kể về quả bầu mẹ nhàm giải thích nguồn gốc
    của người Kinh và người Ta Ôi (các*dân tộc vùng cao nói
    chung): “Số người nam nửa trên bờ của quả bâu có nước da
    18

    ngăm đen, còn số có nước bảo vệ có làn da trẳng trẻo. Sô
    người có màu da trắng xuôi theo dòng sông, dòng suối về
    đồng bằng sinh sống. Những người có làn da ngăm đen lại
    đi ngược về phía đầu nguồn, tìm rừng phát rẫy. Từ đó, hình
    thành nên các dân tộc anh em vùng núi và vùng đồng bằng
    cùng chung sống đoàn kết, đùm bọc, thương yêu nhau cho
    đến bây giờ” (Sự tích quá bầu mẹ).
    Mô tip “quả trứng thần” diễn giải một cách đầy đủ là
    quả trứng nở ra thần linh (dưới dạng một con người có tài
    nghệ xuất chúng). Như truyện Apok Sâu Arâu Koonh kê
    về một bà lão côi cút, nghèo khổ, hôm nọ đi xúc tép cá ở
    dọc bờ suối, thì bắt được một quả trứng, cỡ bằng trứng gà,
    trứng vịt. Bà đưa về nhà nhờ gà hàng xóm ấp, nhưng nở ra
    không phải là vịt hay gà inà ià một cậu bé. Cậu ta được đặt
    tên là Kallong Koq. Kallong Koq khi trưởng thành đã đem
    lại cho dân làng những giống lúa tốt đã nói. Và chàng cũng
    cho dân làng biết, mình chính là Apok Sâu Arâu Koonh,
    con trai của thần Tuyê ở dưới nước được cha sai lên trần
    gian để tạo ra giống lúa giúp dân.
    “Quả trứng thần” cũng xuất hiện trong mẩu thần thoại
    Than Tireal Put. Put từ quả trứng nở ra, “được bà mang về
    nuôi, Put lớn nhanh như thổi. Sau một ngày đã biết bò, sau
    một đêm đã biết đi. Bà già chụm chưa hết gùi cùi nhặt được
    lúc gặp Put, Put đã trở thành một chàng thanh niên vạm vỡ
    khoẻ mạnh, sức vóc hơn người”. Chỉ có thần mới như thể.
    Và đúng vậy: Put vốn là con của thần nông nhưng được
    thai nghén trong lòng sông Asap.
    19

    Khi bắt gặp quả trứng thần mà hành xử không đúng,
    như thay vì tạo điều kiện để trứng sinh nở lại để vui chơi
    hay luộc chín, thì làng bản sẽ nhận lấy những thảm hoạ
    khôn cùng. Sự tích lũ lụt kể việc dân làng đã hành xử không
    đúng, khiến thần linh nổi giận gây thảm hoạ bằng lũ lụt.
    Việc gây thảm hoạ bằng lũ lụt cũng tìm thấy trong truyền
    thuyết Sự tích núi San Lai. Ở truyền thuyết này, do không
    nhận ra quả trứng thần nên đã đem luộc mới phải rước lấy
    một trận hồng thuỷ khủng khiếp.
    Có thể thấy ràng, truyện Apok SâuArâu Koonh đã trình
    bày, hay truyện Thần mặt trăng chỉ bày cho dân chọn ngày
    để trồng trọt: “Như ngày mồng một, tức là klang, trồng sắn
    sẽ được cù to và ngon; ngày mồng hai là rich klang, trồng
    san sẽ bị cù nhỏ mà đắng; mồng ba tức pâng, trồng chuối
    rất tốt, trái to nhiều nải; ngày rằm do thần arkoal cai quản
    thì trồng dứa sẽ được bé cùi, mỏng vỏ và rất ngọt; còn mía
    và bắp phải trồng từ ngày hai mươi trở lên mới tốt, nếu
    trồng trước ngày này thì cây bắp sẽ bị trắng lá, còn mía
    phải chịu sâu đục mà thôi...”, có dáng dấp của loại thần
    thoại sáng tạo.
    Thật ra, có sự đan xen giữa các loại thần thoại, và cả
    đường ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết ở đây
    cũng không được rõ ràng.
    1. 2 .
    Truyền thuyết của dân tộc Ta Ôi có thể chia làm ba
    nhóm: nhóm về sự tích các ngọn núi, dòng sông; nhóm về
    sự tích các dòng họ; và nhóm về sự tích các nhạc cụ.

    20

    Nhóm về sự tích các ngọn núi, dòng sông: Sự tích núi
    Seam Sai, Sự tích doc Par see, Truyền thuyêt sông Asáp
    (Ma Mứt Ma Ma), Truyên thuyêt sông Dakkroong, nhăm
    giải thích vì sao có cái tên gọi như thế. Sở dĩ tên núi là
    Seam Sai vì ở đó có hai anh em rất mực thương nhau, đã
    cùng chết trong hang núi (seam sai: anh em); sở dĩ gọi dốc
    Parsee vì ở đó đã ghi dấu của một tình yêu mãnh liệt, mà
    chỉ ở những người sống chết vì yêu mới có được (parsee:
    tình yêu bất diệt);...
    Điều đáng nói, là những sự tích, những truyền thuyết
    ấy, phần lớn là những câu chuyện tình bi tráng, trong đó,
    việc hết mình vì người yêu và sự thuỷ chung son sắt nôi
    bật hẳn lên. Hình ảnh chàng trai mồ côi nghèo khó hai tay
    nâng lấy người yêu, đôi chân rướm máu vì phải chạy lên
    một con dốc dài, lởm chởm những đá nhọn, để tránh người
    đuổi theo và chém mình từ phía sau, tạo ấn tượng mạnh
    trong lòng người đọc, người nghe. Và đây là đoạn cuối
    của cuộc “thi thố” bất công ấy: “Cơn gió chiều trên dốc
    núi thổi ngược xuống tạt vào khuôn mặt đang vã mồ hôi
    của chàng mồ côi những tưởng làm xoa dịu nồi khó nhọc!
    Bước chân chàng cứ vun vút bay như chú sóc nhẹ nhàng
    chuyển mình từ cành này sang cành kia trên một cây đại
    thụ. Sỏi dốc làm các mũi bàn chân chàng rướm máu, đôi
    bàn tay đã tê cứns nhưng không thể dừng lại, không được
    dừng lại! Khône phải vì có người đang rượt đuổi mà vi cái
    đích dừng chân chưa tới. Khi ông mặt trời kê núi cùng là
    lúc chàng cùng noười yêu trên tay lên đến đinh núi. Nhẹ
    nhàng đặt người yêu xuống 2ổc cây Irây rồi mình cũne la

    dần vì đuối sức. Cô gái thấy vậy liền tháo chiếc khăn trùm
    đầu, xoâ suối tóc đã nhúng nước trước đó, dịu dàng vất
    những giọt nước thấm đầm tình yêu xuống làn môi khô
    khốc của chàng. Chàng từ từ mở mắt và nở nụ cười hạnh
    phúc” . Đó là sự chiến thắng của sức mạnh tình yêu (Sự tích
    dôc Par see).
    Hoặc hình ảnh của đôi tình nhân Ma Mứt và Ma Ma (là
    con của hai chủ làng kình chống nhau quyết liệt), một lòng
    muốn được bên nhau cho dù phải gặp nhau nơi giữa dòng
    sông, trước sự chăm chú của dân hai làng tập trung ở đôi
    bờ. Họ ôm nhau và khóc than trong tuyệt vọng. Biết không
    thể lấy được nhau khi hai làng coi nhau là thù địch, đôi trẻ
    đã chọn cho mình cái chết. Nhờ cái chết ấy mà dân hai làng
    tỉnh ngộ: họ làm lành và hoà thuận với nhau ( Truyền thuyết
    sông Asáp).
    Trong những câu chuyện tình đẫm nước mắt này, không
    chỉ có những chàng trai dũng mãnh, sẵn sàng hi sinh tính
    mạng vì người yêu, mà cả những cô gái một lòng thuỷ
    chung, chống trả quyết liệt trước kẻ ác hung bạo. Như nàng
    Dakkroong đã dút khoát từ chối những cám dỗ của người
    anh trai chồng, một mực thuỷ chung với chàng út chồng
    mình. Nàng bị người anh chồng độc ác đem bỏ vào hang
    núi. Hắn bảo chàng út là Dakkroong đang ở phía đông
    trong lúc lại nhốt nàng ở phía tây. “Chàng vừa đi vừa thổi
    Areeng cho nàng nghe thây mà hát lên cho chàng tìm đên.
    Tiếng kèn não nùng vang khắp cả núi rừng và đên tận tai
    nàng. Biết chồng đi tìm mình, nàng Dakkroong vội lấy một
    22

    ổng mung, tách ra thành hai sợi cột và nâng lên thành hai
    sợi dây đàn. Nàng cầm đàn gáy lên từng khúc nhạc trầm
    bổng, não nuột. Tiếng đàn ngân xa ngàn núi và đến bên
    tai chàng út. Chàng út vội quay lại đi về hướng tây nơi có
    tiếng đàn huyền diệu, vừa đi chàng vừa thổi Areeng. Nàng
    Dakkroong nghe tiếng Areeng vội ra cửa hang và đi nhanh
    về phía đông để mong được gặp chàng. Và hai vợ chồng lại
    được gặp nhau dưới chân một ngọn núi cao vút” ( Truyền
    thuyết sông Dakkroong).
    Nhóm về sự tích các dòng họ chiếm số lượng lớn các
    truyền thuyết người Ta ôi. Dựa vào việc tên gọi về họ ấy
    thuộc loại sự vật gì, có thể chia chúng làm ba nhóm nhỏ:
    tên họ thuộc động vật, tên họ thuộc thực vật, và tên họ
    thuộc đồ vật.
    Tên họ thuộc động vật gồm các họ Tarnău (con chó),
    Vien (con chó), Kê (con sóc), Lalăi (con sóc), Blup Akôl
    (con thằn lằn), Patăq (con mèo), Avô (con vượn), Akơơ
    (con trút), Ahăr (con ếch), kêr (con chim tut tiêt), và Pihôih
    (con ong mật). Phần lớn là các con vật gần gũi với người
    Ta Ói, nhiều nhất là thú, kế đến là bò sát, động vật biết
    bay. Tên họ thuộc thực vật gồm các họ Piriu (loài cây có
    quả như nho) và Reaih (rề cây). Tên họ thuộc đồ vật gồm
    các họ Kar-ăi (cối xay), Prúng (một loại bầy sập có chông
    nhọn), và Aveat (bã rượu đoác).
    Lí do chọn tên họ là động vật, thực vật hay đô vật vừa
    nêu, chi trừ họ Vien (con chó) được giải thích do huyết
    thống, các họ còn lại có thể do một yếu tố thần kì. Như
    23

    chuyện con sóc nướng mãi không chín: “Có một người
    bảo rẳne mọi người cần phải ăn con sóc đỏ ngay trong đêm
    nay. Ón« ta hăng hái đứng dậy đi tìm một ống nứa già và
    to đù đê nhét con sóc vào. Sau đó ông ta đặt ông nứa lên
    bếp lửa. Mọi người như ngưng bớt câu chuyện, hồi hộp
    chờ ống nứa chuyển từ màu xanh sang màu vàng rồi màu
    ám khói đen. “Được rồi!”, một người đàn ông khác hô to
    lên và xách ổng nứa ra khỏi bếp, tách nó ra làm đôi. Con
    sóc vần nằm yên trong ống nứa với hình dáng cũ, lông
    càng đỏ hơn cả mặt trời, cái mũi lại càng ươn ướt, những
    móng chân lại trắng nồng hơn, đuôi như hoa plarơlôn. “Ôi
    Con sóc chưa chín!”, Areaih (người chủ làng) buột miệng.
    Một người vội chạy đi lấy ống nứa khác. Areaih tự tay nhét
    con sóc vào ống nứa và đặt vào bếp lửa. Họ cùng chờ đợi,
    nhưng con sóc nướng lần này cũng không chín. Nó vẫn giữ
    nguyên màu đỏ tươi của hoa plarơlôn. Areaih ném con sóc
    vào lửa, cho thêm củi vào bếp. Lạ lùng thay! Con sóc vẫn
    nguyên vẹn. Những sợi lông đỏ tươi của nó không hề bị
    xém cháy” . Dân làng kinh sợ, và có người đề nghị lấy Kê
    làm họ. (Sự tích họ Kê).
    Có khi một động vật hay thực vật được đặt tên họ do
    chúne làm lợi cho chủ làng {Sự tích họ Tarnău), hoặc có
    biểu hiện không bình thường: một con trút nhỏ nằm trong
    vật đựng mà không sao bẳt được (Sự tích họ Akơơ), hoặc
    vì muốn giữ quan hệ thân thiện với con vật khác (Sự tích
    họ Patăq),...
    24

    Nhưng thường gặp hơn là sự hối hận do lồi lầm khiến
    gây hậu quả tai hại, lấy đó đặt tên họ để răn mình (và người
    khác). Anh nọ có tính keo bẩn, một hôm đi săn bắt được
    một con vượn. Trong lúc hì hục thui vượn thì có khách đến.
    Đó là người anh ruột và bạn của anh ta. Sợ đám người này
    sẽ ăn thịt vượn, anh ta ném con vượn lên giàn cao. Không
    ngờ có một que lửa dính ở tay con vượn gây cháy nhà. Vậy
    là của cải trở thành tro bụi. Bị mọi người lên án, anh chàng
    tĩnh ngộ, lấy làm hối tiếc, và đề nghị được dùng Avô làm
    họ, đê tự răn mình (Sự tích họ Avỏ). Lại cũng có trường
    hợp chết vì một đổi tượng nào đó, dùng tên đối tượng này
    làm họ để kỉ niệm, ghi nhớ hay cầu an, hòng tránh điều
    đáng tiếc kia trong mai hậu (Sự tích họ Reaih).
    Mỗi khi được tôn làm họ, thì động vật hay thực vật
    làm vật tô được người mang làm họ kính trọng, sùng bái.
    Những người này tuyệt đối không ăn thịt, hái quả hay gây
    hại đến vật tổ. Chẳng hạn, người mang họ Ahăr (con ếch)
    tuyệt không làm hại đến ếch hay ăn thịt con vật này.
    Với đồ vật, hai trường hợp dùng làm tên họ được kể có
    tính chất ghi nhớ cho người đời sau nhiều hơn. Như họ Karăi (cối xay) thì nhằm nhắc nhở người cùng họ không làm
    cối xay nhưne phải bở tiền ra mua (chứ không đi ăn trộm
    như trước); họ Prúng (một loại bầy sập có chông nhọn) thì
    nhắc nhở khi đặt loại bầy này phai làm dấu cho người biết
    để tránh; cả trường hợp Aveat (bã rượu đoác) cũne vậy.
    25

    Dưới đây là bảng tóm tắt việc hình thành một số họ Ta
    Ôi theo truyền thuyết:
    Thuộc
    loại Lí do được Tập quán và
    cữ
    động vật, thực nhận làm kiêng
    liên quan
    vật, hay dụng họ
    cụ?

    TT

    TÊN
    CÁC
    HỌ

    1

    Tarnãu

    Động vật: con
    chó

    2.

    Vien

    Động vật: con Huyết
    thống
    chó

    3.



    Động vật. con Biểu hiện
    sóc
    thần kì

    Không săn
    bắt hay ăn
    thịt sóc.

    4.

    Lalăi

    Động vật: con Biểu hiện
    thần kì
    sóc

    -nt-

    5.

    Patăq

    Động vật: con Quan hệ
    thân thiện
    mèo
    với tự
    nhiên

    Không đập
    đánh hay ăn
    thịt mèo.

    6.

    Avô

    Động vật: con Sự hối hận
    vượn
    vi thói xấu,
    khiến gây
    hậu quả
    nghiêm
    trọng

    Không săn
    bắt hay ăn
    thịt vượn.

    .

    26

    Giúp ích
    cho chủ
    làng

    Không ăn
    thịt chó,
    chôn cất khi
    chó chết.
    -nt-

    7.

    Akơơ

    Động vật: con Biêu hiện
    trút
    bất thường

    Không săn
    băt hay ăn
    thịt trút.

    8.

    Aliăr

    Động vật: con Biêu hiện
    ếch
    bất thường
    (khiến vì
    ếch mà
    chết)

    Không săn
    bắt hay ãn
    thịt ếch

    9.

    Blup
    Akôl

    Động vật: con Biều hiện
    thăn lăn
    thần ki

    Không bắt,
    giết than lằn.

    10

    Kêr

    Động vật:
    chim tut tiêt

    Biểu hiện
    thần kì

    Không bát,
    giết chim tut
    tiêt.

    11

    Pihôih

    Động vất:
    ong mật

    Quan hệ
    thân thiện
    với tự
    Iihiên

    Không ăn
    ong mật.

    12.

    Piriu

    Thực vật: cây
    piriu

    Không ăn
    Ghi nhớ
    việc tham
    quá piriu.
    ăn qua piriu
    mà chết

    13.

    Reaih

    Thực vật: bộ
    phận rễ cây

    Gill nhó
    việc chết vi
    vấp rễ cây

    .

    27

    14.

    Kar-ăi

    Đồ vật: cái
    cối xay

    Biếu hiện
    thần ki

    Không làin
    cối xay, mà
    phải đi mua.

    15.

    Prúng

    Đồ vật: loại
    bẫy sập, có
    chônsí đâm

    Ghi nhớ
    việc chết vì
    sập bẫy
    prúng

    Khi đặt bẫy
    piling, phái
    làm dấu đề
    mọi người
    biết mà
    tránh.

    16.

    Aveat

    Đô vật: bã
    rượu đoác

    Ghi nhớ
    việc quá
    chén, gây
    hậu quà tai
    hại

    Nhóm về sự tích các nhạc cụ gồm các truyền thuyết:
    Sự tích cải trông, Sự tích cái khèn bè, Sự tích cây sáo
    areeng, Sự tích chiếc tingat, Sự tích chiếc amam. Các
    truyền thuyết cho thấy, các nhạc cụ được tạo nên nhờ
    những vị thần: thần Rừng làm nên cái trống, thần Kotnhon
    làm nên cây sáo areeng, thần Tro tạo ra chiếc tingat. Có
    điều, không phải bồng dưng thần sáng tạo ra các dụng cụ
    âm nhạc rồi gọi người dân đến để trao cho. Mà hoặc thần
    đứng trước việc bắt buộc phải sáng tạo, như thần Rừng ăn
    trâu của chàng trai Akưr. trước lời than vãn của chàng, đã
    tạo nên cái trống để đền bù (Sự tích cái trống); hoặc trư ớ c
    cảnh đôi trai gái đang đau xót khi không được cha mẹ cho
    kết hôn, thần Kotnhon (thần hộ mệnh) đã động lòng, bày
    28

    cho họ làm chiếc sáo areeng; hoặc trước sự cầu xin thần
    Tro cứu giúp cho việc trồng trỉa đang bị một loài chim moi
    hạt giống lên ăn, thần đã bày cho dân làm chiếc tingat.
    Bên cạnh thần linh, con người cũng sáng tạo ra dụng cụ
    âm nhạc. Việc sáng tạo này có thể do cảm hứng khi đứng
    trước một hiện thực bi hùng, như Sự tích cái khèn bè kể
    việc mười bốn chàng trai tuấn kiệt đã hi sinh trong cuộc
    chiến với quỷ dữ để giành nguồn nước, đem lại nguồn sổng
    cho dân. Sau khi chôn cất các chàng, điều kì lạ đã xảy ra:
    "Mộ nào cũng có một khóm sậy mọc dưới chân. Đêm đêm
    gió lùa vào các khóm sậy, lao xao vọng những âm thanh
    dịu dàng như lời ru thương nhớ”. Điều này đã tạo cảm
    hứng cho một già làng, ông lấy mười bốn cây sậy của mười
    bốn nhà mồ và ghép lại thành một khối bốn cây đều nhau
    và sau đó từng đôi một cứ thấp dần thành sáu bậc; trên mồi
    thân đoạn sậy có mắc bịt kín hai đầu cho hơi khòi thoát ra,
    phía dưới làm một lưỡi gà nhỏ từ thân cây, trên lưỡi gà có
    một lỗ nhỏ để thoát hơi: đó là chiếc khèn bè. Việc sáng tạo
    ấy cũng có thể xuất phát từ đòi hỏi bức bách của cuộc sống,
    như Sự tích chiếc amam: để dồ đứa con do đã quen ngủ
    trong rừng, không chịu nín khóc khi ru nRÙ ở nhà, người
    mẹ đã tạo nên chiếc sáo nhỏ (amam), thổi nghe như tiếng
    ve kêu, chim hót, khiến đứa trẻ ngon giấc.
    Truyền thuyết thường gắn với lịch sử, là lịch sử của một
    đất nước. Nhưng cũng có thể là lịch sử của một địa bàn hay
    một làng quê nhỏ của đất nước ấy: đó là trường hợp các
    truyền thuyết về những thành hoàng làng, các vị tô họ,...
    Điều này, khiến ta liên tưởng đến những dòng chày nhỏ
    29

    trong quan hệ với một dòng chảy lớn của lịch sử một dân
    tộc, một đất nước.
    Những truyền thuyết Ta Ồi vừa xét cũng có mối quan
    hệ với lịch sử: lịch sử của núi sông, của dòng họ, của nhạc
    cụ. Lịch sử ấy có quan hệ máu thịt với đồng bào (hiện nay,
    nhiều người vẫn mang những dòng họ như đã trình bày),
    nhưng so với lịch sử của đất nước thì mức độ quan hệ khá
    mờ nhạt'°. Điều muốn đặt ra ở đây, là việc mở rộng khái
    niệm truyền thuyết để có thể phù hợp với các nhóm truyện
    của người Ta ô i vừa trình bày. Việc làm này nhàm tháo gỡ,
    định dạng dần cái tập hợp lâu nay vẫn gọi là “truyện cổ”.
    1.3.
    Truyện cổ tích của dân tộc Ta Ôi khá phong phú.
    Ở sách này, có 38 mẩu truyện được giới thiệu, chia làm
    ba loại: truyện cổ tích thần kì (23 mẩu): Voóq Dúq hoá
    cọp, Nàng Kalang Nietka, Anh em nhà Achât và chị em
    nhà Kalang, Xang Lư lai, Nàng Pir Tulíq, Nàng Pir Tulíq
    và chàng Tur (ỉ), Nàng Pir Tulíq và chàng Tur (II), Nàng
    Piêr Chon và con trai thần Tuyê, Chàrìg Voi, Nàng Kupên,
    Nàng Pâk Tuk, Nàng Apong, A pơơng và Aitông, Hai
    anh em, Abâm và Angas (Ị), Abâm và Angas (II), Chiếc
    khèn thần, Chuyện chàng Cóc, Người đội lốt mèo, Chàng
    Rắn, Piruỉh Aroóq, Người vợ vượn, Chàng Lờng và lão
    (1) Lí do hẳn vì cuộc sống du canh, tự cung tự cấp và hạn chế về
    giao lưu giữa các làng bản, các dân tộc trước đây. Một sự tù
    đọng về kinh tế xã hội tất yểu dẫn đến một sự khép kín về văn
    hoá lịch sử, và sự khác biệt ờ bình diện này trở nên rõ ràng khi
    có điều kiện đối sánh với các dân tộc khác.-Cái gọi là bản sắc

    dân tộc được hình thành từ cơ sờ này.
    30

    Bay Bum (số thứ tự từ 1 đến 23); truyện cổ tích sinh hoạt
    (11 mâu): Chàng Nơai, Chàng Aleng Noi, Chàng Ateeng,
    Nàng Tagưk, Kabích và Achảt, Akong và Akai, Apeng và
    Apin, Chàng mồ côi nhanh trí, Koai Turoal và tên nhà giàu
    độc ác, Tachol và con gấu, Châu chấu và De (số thứ tự từ
    24 đến 34); truyện cổ tích loài vật (4 mẩu): Sự tích chim trĩ
    bới mộ, Sự tích con bọ ngựa, Con thỏ ranh ma, Thò và bà
    (số thứ tự từ 35 đến 38).
    1.3.1.
    Truyện cổ tích thần kì có nội dung ca ngợi những
    người con dũng cảm của bộ tộc, sằn sàng bảo vệ cộng
    đồng, xây dựng làng bàn, tạo cuộc sống ấm no, hạnh phúc
    cho mọi người. Voóq Dúq muốn...
     
    Gửi ý kiến

    Chẳng có người bạn nào thầm lặng và chung thủy như sách. Chẳng có cố vấn nào thông thái vượt bậc hơn sách. Sách là người thầy kiên nhẫn nhất cuộc đời con người chúng ta.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS THỦY CHÂU, THỊ XÃ HƯƠNG THỦY - TP. HUẾ!