Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Văn hóa dân gian các dân tộc ít người ở Thừa Thiên Huế (Song ngữ Việt - Tà Ôi, Việt - Cơ Tu)(Quyển 1)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 07h:48' 18-03-2024
Dung lượng: 129.8 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 07h:48' 18-03-2024
Dung lượng: 129.8 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Ệ DÂN GIAN VIỆT NAM
s ủ ư (Chủ biên)
TRÀN NGUYỄN KHÁNH PHONG
TRIÈƯ .NGUYÊN
VĂN HÓA DÂN GIAN
CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
Ở THỪA THIÊN HUÊ
(SONG NGŨ V I Ệ T - T A Ôl, V I Ệ T - C O TU)
(Quyển 1)
Qj] NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA TH Ô N G TIN
VÃN HỌC DÂN GIAN
CÁC DÂN TỌC ÍT NGƯỜI
ở t h ừ À t h iên huế
(SONG N G Ữ VIỆT- TA ÔI, VIỆT - c o TU)
(Quyển 1)
Hội VẢN NGHỆ DÂN GIAN VIỆT NAM
KÊ SỬU (Chủ biên)
TRẦN NGUYÊN KHÁNH PHONG
TRIÈU NGUYÊN
VAN HỌC DAN GIAN
CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
Ở THỪA THIÊN HƯÉ
( S O N G N G Ữ V I Ệ T - TA ÔI, V I Ệ T - co TU)
(Quyển 1)
NHÀ XUÁT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN
D ự ÁN CÔNG BÓ, PHỐ BIÉN
TÀI SẢN VÃN HÓA, VĂN NGHỆ DÂN GIAN
VIỆT NAM
( E 1, Ngõ 29, Tạ Quang Bửu - Bách Khoa - Hà Nội
Điện thoại: (04) 3627 6439; Fax: (04) 3627 6440
Email: duandangian@gmail.com)
BAN CHỈ ĐẠO
1. GS. TSKH. TÔ NGỌC THANH
Trưởng ban
2. ThS. HUỲNH VĨNH ÁI
Phó Trưởng ban
3. GS.TS. NGUYẺN XUÂN KÍNH
4. TS. TRÀN HỮU SƠN
Phó Trướng ban
Uy viên
5. Ông NGUYÊN KIÉM
Uy viên
6. Nhà văn ĐỎ KIM CUÔNG
Uy viên
7. ThS. VŨ CỒNG HỘI
Uy viên
8. Nhà giáo NGUYÊN NGỌC QUANG Uy viên
9. ThS. ĐOÀN THANH NỒ
Uy viên
10. Ồng TRƯƠNG THANH HÙNG
Uy viên
GIÁM ĐÓC VĂN PHÒNG DỤ ÁN
ThS. ĐOÀN THANH NÔ
Chịu trách nhiệm nội dung:
GS.TSKH. TÔ NGỌC THANH
Tlíẩm định nội dung:
HỘI ĐÒNG THAM ĐỊNH BẢN THAO
LỜI GIỚI T H IỆ U
Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (VNDGVN) là một
tô chức chính trị xã hội nghê nghiệp, năm trong khôi Liên
hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.
Quyết định số 82/NV, ngày 01/03/1967 của Bộ Nội vụ
thay mặt Chính phú đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian
thành lập và hoạt động trên phạm vi toàn quốc và có mối
liên hệ nghề nghiệp với các tổ chức khác ở trong nước và
nước ngoài.
Tôn chi mục đích của Hội là “ Suu tầm, nghiên cứu,
phô biến và truyền dạy vốn văn hóa - văn nghệ dân gian
các tộc nguòi Việt Nam” . Trên cơ sơ thành qua của các
công việc trên, Hội là một trong những đội quân chủ lực
góp phần bảo tôn và phát huy những giá trị văn hóa - văn
nghệ mang đậm ban sắc dân tộc đã được ông cha ta sáng tạo
và giữ gìn trong suốt mấy nghìn năm của lịch sử dân tộc.
Những giá trị sáng tạo đó thê hiện mối quan hệ của các
tộc người Việt Nam với thiên nhiên thông qua các tri thức
san xuất nông nghiệp; với xã hội thông qua phong tục tập
quán, hội xuân; với nhàn sinh quan thông qua các nghi lễ
vòng đời người; với vũ trụ và thế giới tự nhiên đã được
siêu nhiên hóa thông qua các loại hình tín nsuờns tôn giáo;
9
với lý tường thẩm mỳ thông qua các sáng tạo văn học nghệ
thuật. Ỏ mỗi tộc người Việt Nam, những lĩnh vực và hình
thái văn hóa - văn nghệ này lại được the hiện trong một sắc
thái riêng. Chính kho tàng văn hóa đa dạng đó là nội dung,
là đối tượng hoạt động của hội viên Hội VNDGVN.
Sau gần 50 năm hoạt động, được sự lãnh đạo của Đảng
và sự chăm sóc của Nhà nước, Hội VNDGVN đã lớn mạnh
với trên 1.200 hội viên, số công trình do hội viên của Hội
đã hoàn thành lên đến 5000 công trình, hiện đang được lưu
giữ và bảo vệ tại Văn phòng Hội.
Được sự quan tâm của Ban Bí thư và Thủ tướn? Chính
phủ, Dự án “ Công bố và phố biến tài sản văn hóa - văn
nghệ dân gian các dân tộc Việt N am ” đã được phê duyệt.
Trong giai đoạn I (2008 - 2012), Dự án đã xuất bản 1.000
công trình, tác phẩm văn hóa - văn nghệ dân gian các dân
tộc; Giai đoạn II (2013 - 2017) Dự án sẽ tiếp tục công bố
thêm 1.500 công trình nữa.
Hy vọng, các xuất bản phẩm của Dự án sẽ cung cấp cho
bạn đọc trong và ngoài nước một bộ sách mang tính chất
bách khoa thư về các sắc màu văn hóa của các tộc người
Việt Nam, phục vụ thiết thực vào việc tra cứu, mở rộng
hiểu biết của bạn đọc về truyền thống văn hóa giàu có và
độc đáo đó; góp phần xây dựng nền "'văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” .
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Dự án mong nhận
được ý kiến chỉ bảo kịp thời của bạn đọc gần xa.
Xin chân thành cảm ơn!
Trưởng Ban Chi đạo thực lĩiện D ự án
G S.TSK H. Tô Ngọc T hanh
10
LỜI NÓI Đ Ầ U
Một công trình nghiên cứu của nhóm dân tộc học
Trường Đại học Tổng hợp Huế, do Nguyễn Quốc Lộc chủ
biên là Các dân tộc ít người ớ Bình Trị Thiên (Nxb. Thuận
Hoá, Huế, 1984), có nêu “Danh mục các thành phần dân
tộc tinh Bình Trị Thiên (xếp thứ tự theo dân số) là: 1) Kinh
(bao gồm người Nguồn ở Tuyên Hoá); 2) Vân Kiều (có các
nhóm Vân Kiều, Trì, Ma Coong, Khùa, Pa Hi); 3) Tà Ôi
(Nhóm sưu tầm, biên soạn sách này gọi là Ta Ôi); 4) Cơ
Tu; 5) Chút (gồm các nhóm Sách, Rục, Arem)” (tr. 45).
Cũng theo công trình này, thì Pa Cô là một tên gọi khác
(tên phiếm xưng) của Ta Ỏi (tr. 43). Địa bàn sinh sống
chú yếu của người Vân Kiều và người Chúrt là Quảng Trị,
Quảng Bình; địa bàn sinh sống chủ yếu của người Ta Ôi và
người Cơ Tu là Thừa Thiên Huế (người Cơ Tu sống đông
hơn ở các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Trà Mi,
Bắc Trà Mi và Phước Sơn thuộc Q u à n g Nam). Như vậy,
nói văn học dân gian các dân tộc ít người ở Thừa Thiên
Huế. là nói đến hai bộ phận: văn học dân gian dân tộc Ta
Ồi và văn học dân ẹian dân tộc Cơ Tu.
11
Cho đến nay, có ít nhất là các công trình sưu tập sau,
liên quan đến hai bộ phận văn học dân gian vừa nói (thứ tự
theo thời điểm công bố):
- Nguyễn Quốc Lộc (chủ biên), Nguyễn Hữu Thông,
Nguyễn Thị Hoà, Truyện cô Tà Ói, Sở Văn hoá Thông tin
Bình Trị Thiên xuất bản, 1985.
- Mai Văn Tấn, Con voi thần (Truyện cổ Vân Kiều, Tà
Ôi), Nxb. Thuận Hoá, Huế, 1996.
- Ban Văn học Việt Nam, Nẹười lấy vợ đá (In theo bản
Truyện cổ Tà Ôi, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1987),
Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000.
- Nguyễn Hữu Chúc và tgk., Truyện cổ cúc dân tộc
miền núi Bắc miền Trung, Nxb. Thuận Hoá, Nxb. Nghệ
An, Nxb. Thanh Hoá kết hợp xuất bàn, 2001.
- Trần Nguyễn Khánh Phong, Nguyễn Thị Sứu, Truyện
cổ Ta Ôi, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2005.
- Trần Nguyễn Khánh Phong, Chàng Phuật Nà (Truyện
cổ Tà Ôi, Cơ Tu), Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2006.
- Trần Nguyễn Khánh Phong, Ta Dưr Tư, Truyện cổ Pa
Cô, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2010.
Có thể thấy ràng, về văn học dân gian của hai dân tộc
đang bàn, truyện cổ là nổi trội và được các nhà sưu tầm
chú ý trước tiên. Các thê loại văn học dân gian khác thuộc
hình thức văn vần, như tục nsữ. ca dao, đồng dao, câu đố,...
chưa thấy có công; trình dạne sách. Và với “truyện cổ” đã
được quan tâm cũng cân phân định vê mặt thê loại: nhóm
12
truyện cổ thuộc thần thoại, thuộc truyền thuyết, truyện cồ
tích, truyện ngụ ngôn,...
Yêu câu về việc cần có công trình Văn học dân gian các
dân tộc ít người ở Thừa Thiên Huế đưọc đặt ra, nhàm giải
quyết tình hình trên. Bên cạnh đó, để đưa những sáng tạo
văn học dân gian quay trở lại với cộng đồng, là cội nguồn,
nơi xuất phát của chúng, lại phải nghĩ đến tiếng mẹ đẻ,
ngôn ngừ sản sinh ra những tinh hoa ấy, vấn đề song ngừ
giữa Việt ngừ và ngôn ngữ dân tộc liên quan cũng cần được
thực hiện. Đó là những phần việc, đồng thời, cũng là đặc
điểm mà công trình này có được.
Đe tiến hành công việc, Nhóm sưu tầm, biên soạn gồm
ba người, được phân công như sau (ghi phần việc chủ yếu):
1) Kê Sửu (tên khai sinh là Nguyễn Thị Sửu): Chủ biên;
sưu tầm tục ngữ, ca dao, một phần truyện cổ và dịch Ta Ôi
- Việt, Cơ Tu - Việt toàn bộ công trình;
2) Trần Nguyễn Khánh Phong: Sưu tầm một phần
truyện cổ;
3) Triều Nguyên: Hệ thống hoá các văn bản sưu tầm,
viết khái luận.
Neu việc sưu tầm văn học dân gian người Kinh phần
lớn do các thế hệ sinh viên (chủ yếu là ba trường: Trường
Đại học Khoa học Huế, Trường Đại học Sư phạm Huế, và
Trường Cao đẳne Sư phạm Huế) thực hiện, thì việc sưu
tầm văn học dân gian các dân tộc ít người lại do các nhà
nghiên cứu đảm trách
13
Do lực lượng mòng, địa bàn rộng, lại có sự ngăn cách
bởi bức tường ngôn ngữ, nên công việc sưu tầm đã tiêu tốn
khá nhiều thời gian, công sức. Đến thời điểm này, Nhóm
sưu tầm, biên soạn đã vượt qua các trở lực để hoàn thành
tập sách, với 335 văn bản của năm thể loại: thần thoại,
truyền thuyết, truyện cổ tích, tục ngữ, và ca dao. Tuy chưa
được như mong muốn (số lượng văn bản văn học dân gian
sưu tầm được có hạn, còn một số thể loại khác như truyện
cười, câu đố, đồng dao,... vắng bóng), nhưng cũng góp
phần nhất định vào công cuộc bảo tồn và phát huy các giá
trị văn hoá tinh thần truyền thống của hai dân tộc Ta Ôi và
Cơ Tu, đáp ứng yêu cầu đặt ra. Vả chăng, có thể xem đây
như một phác thảo, hay cơ sở để có thể bổ sung, bồi đắp
dần, khiến công trình sẽ hoàn thiện hơn trong tương lai.
Trên tinh thần ấy, Nhóm sưu tầm, biên soạn xin chân
thành cảm ơn về mọi sự giúp đỡ, cảm ơn Nhà xuất bản
XXX đã cho công bố lần đầu tập sách, và mong mỏi bạn
đọc góp ý để lần in sau được tốt hơn.
14
KHÁI LUẬN VÈ VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC
DÂN TỘC ÍT NGƯỜI Ở THỪ A THIÊN HUÉ
Sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ơ Thừa
Thiên Huế (song ngữ Việt - Ta Ôi, Việt - Cơ Tu) chia làm
hai phần Văn học dân gian dân tộc Ta Ỏi và Văn học dân
gian dân tộc Cơ Tu.
1. Người Ta Ôi là cư dân chủ thể của huyện A Lưới, làm
nương rẫy, chủ yếu là trồng cây lương thực. Đồng bào sống
với nhau thành từng veeln) (thường có một tên gọi riêng),
mồi vee! gồm khoảng vài chục nóc nhà (dung), bên cạnh
đó, còn có các chòi (xu) dùng để canh rầy. Một kiến trúc
công cộng cua toàn veel đáng chú ý !à trap kammooch
(nhà ma), nơi tập trung nhiều công trình điêu khắc, trang
trí mĩ thuật, có cột lớn, mái lợp bằng mây hoặc ống lồ ô rọc
hai nửa, đặt úp ngửa. Trap kammooch được dựng ở một
địa thế đẹp, nam ngoài rìa veel. dùng làm nơi sinh hoạt
(1) Đê thống nhất cách ghi âm. tự, Nhóm biên soạn, sưu tầm dựa
vào bàn điên chê ngữ âm năm 1986 của Viện Ngôn ngữ học
Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Binh Trị Thiên in thành
“Sách học tiếng Pakô - Ta ô i ” (với tiếng Ta Ôi) và "Sách học
tiếng Cơ Tu” (với tiếng Cơ Tu).
15
cua toàn veel trong nhữ ng dịp tan g ma, lề cai táng
(eal kammooch), các ngày hội, lễ tiết,...
Ngày trước, khi sản phẩm dệt còn hiếm hoi, đồng bào
Ta Ôi thường ở trần, đóng khố hoặc mang một loại váy
ngắn, gọi là amâng, được làm bằng vỏ cây abâi ngâm nước
dập dẹp và kết lại. Đồ trang sức chính của đồng bào là các
loại vòng bạc, vòng đồng, cườm, đá quý,... ờ một số cụ già
còn có vòng tay, vòn? chân bằng đồng đỏ, làm theo dạng lò
xo xoẳn, vấn quanh cánh tay hay ống chân. Tục cưa răng,
xăm mình hay căng tai ngoài ý nghĩa về mặt tín ngưỡng,
phong tục, còn thế hiện quan niệm thấm mĩ cùa rmười Ta
Ôi. Các thành viên đến tuổi trưởng thành đều chịu tục xăm
inình và cưa răng. Con trai thì xăm hình con hổ (mbăr), con
diều (kalang avăk) tượng trưng cho sức khoẻ, hình trái núi
(pile kooh) tượng trưng cho cảnh quan và nơi cư trú, hình
một loại cây lá thơm dễ sống tượng trưng cho sức bền bỉ
và ý chí tinh thần; con gái thì xăm hình cây abong với một
sợi dây leo quấn quanh, tượng trưng cho sự trong sạch của
bản thân và sự bảo vệ, che chở của veel; con trai hay con
gái đều xăm hình chừ thập (déng katténg) tượng trưng cho
lòng nhân từ, cố kết cộng đồng, duy trì nòi giống đế mãi
trường tồn...
Theo huvểt tộc, người Ta Ôi có các tổ chức yaq (dòng
họ), mồi yaq có xuất yaq (trưởng yaq), đại diện cho yaq
trong quan hệ với các thành viên của yaq và với toàn veel.
Yaq có thể mang tên gọi của một động vật, thực vật hay
đồ vật, như yaq Acho (con chó), yaq Plăng (co tranh), yaq
Apãl (cối giã gạo).... Dưới yaq là toop (hay chum), thường
16
sống trong cùng một veel (người cùng yaq lắm khi sinh
sống ở các veel khác nhau), dưới toop là kattooh, gồm
những thành viên có quan hệ máu mủ gần gũi nhất.
Nam nữ Ta Ôi đến tuổi trưởng thành được tự do tìm
hiểu nhau trong những dịp đi sim (vơâch xu). Phong tục
quy định, những laleéu (trai chưa vợ) và kammoor (gái
chưa chồng) sau giờ làm việc có thê theo nhau vào rừng
hoặc ra bờ sông, suối, ở các chòi (kot) dựng sẵn để trao đôi
tâm tình. Sau khi đôi nam nừ đã cảm thông nhau, họ trao
quà làm tin và người con trai sẽ báo với cha mẹ để nhờ ông
mai bà mối đến nhà gái đặt vấn đề. Neu được chấp thuận,
hai bên sẽ tiến hành lề hỏi (vơâch seak ideal). Ở lễ này, nhà
trai sẽ mang đến cho nhà gái một số của cải như vòng đặc,
chuỗi cườm, rượu nếp. Vào lễ cưới (dóng ikon), có nhiều
sính lễ quý như chiêng, ché, nồi đồng, trâu, bò, dê lợn, lúa,
nếp,... được nhà trai đưa đến để xin dâu.
Do tục thách cưới nặng nề nên trước đây có không ít
trường hợp những chàng mồ côi hay nghèo khô phải chịu
đơn độc, ngược lại, cũng có người giàu có cưới đưọc
nhiều vợ(l).
Văn học dân gian của neười Ta ô i hiện sưu tầm được
gồm năm thể loại: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích,
tục neữ và ca dao.
(1) Việc giới thiệu khái quát về người Ta Ôi vừa nêu. cũng như về
người Cơ Tu ở dưới, viết dựa theo: Nguyễn Quốc Lộc và tgk.
Các dân tộc ít người ớ Bình Trị Thiên, Nxb. Thuận Hoá.
Huế, 1984.
1.1.
Thần thoại Ta Ôi chủ yếu thuộc loại thần thoại suy
nguyên, là những thần thoại nhằm giải thích nguồn gổc con
người và một số sự vật, hiện tượng tự nhiên. Có hai mô
tip đáng chú ý: mô tip “quả bầu mẹ” và mô tip “quả trứng
thần” .
Sở dĩ nói “quả bầu mẹ”, vì đó là quả bầu sinh nở. Quả
bầu ấy sinh ra người: “Mùa xuân đến, khí trời ấm áp trở
lại. Cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, hương hoa thơm ngát rừng.
Đúng lúc này, quả bầu bồng vỡ ra, và con người từ lòng nó
vươn dậy” (Sự tích quả bầu mẹ). Đồng thời, nó cũng sinh
ra những giống lúa tốt để con người trồng trọt: “Kallong
Koq lấy mười quả bầu từ mười cái trui đem ra cắt đầu thì
từ trong quả bầu chảy ra mười loại gạo rẫy thơm ngon
nhất, đó là gạo rayư, kuya, trưi, pinhe, kupva, tréq, amék,
kuhom, atut, deep...” (Apok Sâu Arâu Koonh).
Hình tượng quả bầu có thể được hình thành từ tâm thức
của người Ta Ôi qua việc đây là vật đựng hạt giống, được
cất giữ cẩn thận, đó là nơi của sự trông mong, hi vọng. Khi
giải thích nguồn gốc các tộc người, quả bầu ấy do chó sinh
ra. Nếu xem con người và các loài động vật là ngang bậc
(như truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích từng làm), thì cái lí
của vấn đề là động vật sinh ra động vật. Điều này sẽ thích
ứng khi kể quả bầu sinh ra các giống gạo ngon được trồng
trọt mà thành (chứ không phải được người hay vật đẻ ra).
Cả Sự tích quả bầu mẹ và Nguồn gốc cùa người Ta Oi
(I và II) đều kể về quả bầu mẹ nhàm giải thích nguồn gốc
của người Kinh và người Ta Ôi (các*dân tộc vùng cao nói
chung): “Số người nam nửa trên bờ của quả bâu có nước da
18
ngăm đen, còn số có nước bảo vệ có làn da trẳng trẻo. Sô
người có màu da trắng xuôi theo dòng sông, dòng suối về
đồng bằng sinh sống. Những người có làn da ngăm đen lại
đi ngược về phía đầu nguồn, tìm rừng phát rẫy. Từ đó, hình
thành nên các dân tộc anh em vùng núi và vùng đồng bằng
cùng chung sống đoàn kết, đùm bọc, thương yêu nhau cho
đến bây giờ” (Sự tích quá bầu mẹ).
Mô tip “quả trứng thần” diễn giải một cách đầy đủ là
quả trứng nở ra thần linh (dưới dạng một con người có tài
nghệ xuất chúng). Như truyện Apok Sâu Arâu Koonh kê
về một bà lão côi cút, nghèo khổ, hôm nọ đi xúc tép cá ở
dọc bờ suối, thì bắt được một quả trứng, cỡ bằng trứng gà,
trứng vịt. Bà đưa về nhà nhờ gà hàng xóm ấp, nhưng nở ra
không phải là vịt hay gà inà ià một cậu bé. Cậu ta được đặt
tên là Kallong Koq. Kallong Koq khi trưởng thành đã đem
lại cho dân làng những giống lúa tốt đã nói. Và chàng cũng
cho dân làng biết, mình chính là Apok Sâu Arâu Koonh,
con trai của thần Tuyê ở dưới nước được cha sai lên trần
gian để tạo ra giống lúa giúp dân.
“Quả trứng thần” cũng xuất hiện trong mẩu thần thoại
Than Tireal Put. Put từ quả trứng nở ra, “được bà mang về
nuôi, Put lớn nhanh như thổi. Sau một ngày đã biết bò, sau
một đêm đã biết đi. Bà già chụm chưa hết gùi cùi nhặt được
lúc gặp Put, Put đã trở thành một chàng thanh niên vạm vỡ
khoẻ mạnh, sức vóc hơn người”. Chỉ có thần mới như thể.
Và đúng vậy: Put vốn là con của thần nông nhưng được
thai nghén trong lòng sông Asap.
19
Khi bắt gặp quả trứng thần mà hành xử không đúng,
như thay vì tạo điều kiện để trứng sinh nở lại để vui chơi
hay luộc chín, thì làng bản sẽ nhận lấy những thảm hoạ
khôn cùng. Sự tích lũ lụt kể việc dân làng đã hành xử không
đúng, khiến thần linh nổi giận gây thảm hoạ bằng lũ lụt.
Việc gây thảm hoạ bằng lũ lụt cũng tìm thấy trong truyền
thuyết Sự tích núi San Lai. Ở truyền thuyết này, do không
nhận ra quả trứng thần nên đã đem luộc mới phải rước lấy
một trận hồng thuỷ khủng khiếp.
Có thể thấy ràng, truyện Apok SâuArâu Koonh đã trình
bày, hay truyện Thần mặt trăng chỉ bày cho dân chọn ngày
để trồng trọt: “Như ngày mồng một, tức là klang, trồng sắn
sẽ được cù to và ngon; ngày mồng hai là rich klang, trồng
san sẽ bị cù nhỏ mà đắng; mồng ba tức pâng, trồng chuối
rất tốt, trái to nhiều nải; ngày rằm do thần arkoal cai quản
thì trồng dứa sẽ được bé cùi, mỏng vỏ và rất ngọt; còn mía
và bắp phải trồng từ ngày hai mươi trở lên mới tốt, nếu
trồng trước ngày này thì cây bắp sẽ bị trắng lá, còn mía
phải chịu sâu đục mà thôi...”, có dáng dấp của loại thần
thoại sáng tạo.
Thật ra, có sự đan xen giữa các loại thần thoại, và cả
đường ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết ở đây
cũng không được rõ ràng.
1. 2 .
Truyền thuyết của dân tộc Ta Ôi có thể chia làm ba
nhóm: nhóm về sự tích các ngọn núi, dòng sông; nhóm về
sự tích các dòng họ; và nhóm về sự tích các nhạc cụ.
20
Nhóm về sự tích các ngọn núi, dòng sông: Sự tích núi
Seam Sai, Sự tích doc Par see, Truyền thuyêt sông Asáp
(Ma Mứt Ma Ma), Truyên thuyêt sông Dakkroong, nhăm
giải thích vì sao có cái tên gọi như thế. Sở dĩ tên núi là
Seam Sai vì ở đó có hai anh em rất mực thương nhau, đã
cùng chết trong hang núi (seam sai: anh em); sở dĩ gọi dốc
Parsee vì ở đó đã ghi dấu của một tình yêu mãnh liệt, mà
chỉ ở những người sống chết vì yêu mới có được (parsee:
tình yêu bất diệt);...
Điều đáng nói, là những sự tích, những truyền thuyết
ấy, phần lớn là những câu chuyện tình bi tráng, trong đó,
việc hết mình vì người yêu và sự thuỷ chung son sắt nôi
bật hẳn lên. Hình ảnh chàng trai mồ côi nghèo khó hai tay
nâng lấy người yêu, đôi chân rướm máu vì phải chạy lên
một con dốc dài, lởm chởm những đá nhọn, để tránh người
đuổi theo và chém mình từ phía sau, tạo ấn tượng mạnh
trong lòng người đọc, người nghe. Và đây là đoạn cuối
của cuộc “thi thố” bất công ấy: “Cơn gió chiều trên dốc
núi thổi ngược xuống tạt vào khuôn mặt đang vã mồ hôi
của chàng mồ côi những tưởng làm xoa dịu nồi khó nhọc!
Bước chân chàng cứ vun vút bay như chú sóc nhẹ nhàng
chuyển mình từ cành này sang cành kia trên một cây đại
thụ. Sỏi dốc làm các mũi bàn chân chàng rướm máu, đôi
bàn tay đã tê cứns nhưng không thể dừng lại, không được
dừng lại! Khône phải vì có người đang rượt đuổi mà vi cái
đích dừng chân chưa tới. Khi ông mặt trời kê núi cùng là
lúc chàng cùng noười yêu trên tay lên đến đinh núi. Nhẹ
nhàng đặt người yêu xuống 2ổc cây Irây rồi mình cũne la
dần vì đuối sức. Cô gái thấy vậy liền tháo chiếc khăn trùm
đầu, xoâ suối tóc đã nhúng nước trước đó, dịu dàng vất
những giọt nước thấm đầm tình yêu xuống làn môi khô
khốc của chàng. Chàng từ từ mở mắt và nở nụ cười hạnh
phúc” . Đó là sự chiến thắng của sức mạnh tình yêu (Sự tích
dôc Par see).
Hoặc hình ảnh của đôi tình nhân Ma Mứt và Ma Ma (là
con của hai chủ làng kình chống nhau quyết liệt), một lòng
muốn được bên nhau cho dù phải gặp nhau nơi giữa dòng
sông, trước sự chăm chú của dân hai làng tập trung ở đôi
bờ. Họ ôm nhau và khóc than trong tuyệt vọng. Biết không
thể lấy được nhau khi hai làng coi nhau là thù địch, đôi trẻ
đã chọn cho mình cái chết. Nhờ cái chết ấy mà dân hai làng
tỉnh ngộ: họ làm lành và hoà thuận với nhau ( Truyền thuyết
sông Asáp).
Trong những câu chuyện tình đẫm nước mắt này, không
chỉ có những chàng trai dũng mãnh, sẵn sàng hi sinh tính
mạng vì người yêu, mà cả những cô gái một lòng thuỷ
chung, chống trả quyết liệt trước kẻ ác hung bạo. Như nàng
Dakkroong đã dút khoát từ chối những cám dỗ của người
anh trai chồng, một mực thuỷ chung với chàng út chồng
mình. Nàng bị người anh chồng độc ác đem bỏ vào hang
núi. Hắn bảo chàng út là Dakkroong đang ở phía đông
trong lúc lại nhốt nàng ở phía tây. “Chàng vừa đi vừa thổi
Areeng cho nàng nghe thây mà hát lên cho chàng tìm đên.
Tiếng kèn não nùng vang khắp cả núi rừng và đên tận tai
nàng. Biết chồng đi tìm mình, nàng Dakkroong vội lấy một
22
ổng mung, tách ra thành hai sợi cột và nâng lên thành hai
sợi dây đàn. Nàng cầm đàn gáy lên từng khúc nhạc trầm
bổng, não nuột. Tiếng đàn ngân xa ngàn núi và đến bên
tai chàng út. Chàng út vội quay lại đi về hướng tây nơi có
tiếng đàn huyền diệu, vừa đi chàng vừa thổi Areeng. Nàng
Dakkroong nghe tiếng Areeng vội ra cửa hang và đi nhanh
về phía đông để mong được gặp chàng. Và hai vợ chồng lại
được gặp nhau dưới chân một ngọn núi cao vút” ( Truyền
thuyết sông Dakkroong).
Nhóm về sự tích các dòng họ chiếm số lượng lớn các
truyền thuyết người Ta ôi. Dựa vào việc tên gọi về họ ấy
thuộc loại sự vật gì, có thể chia chúng làm ba nhóm nhỏ:
tên họ thuộc động vật, tên họ thuộc thực vật, và tên họ
thuộc đồ vật.
Tên họ thuộc động vật gồm các họ Tarnău (con chó),
Vien (con chó), Kê (con sóc), Lalăi (con sóc), Blup Akôl
(con thằn lằn), Patăq (con mèo), Avô (con vượn), Akơơ
(con trút), Ahăr (con ếch), kêr (con chim tut tiêt), và Pihôih
(con ong mật). Phần lớn là các con vật gần gũi với người
Ta Ói, nhiều nhất là thú, kế đến là bò sát, động vật biết
bay. Tên họ thuộc thực vật gồm các họ Piriu (loài cây có
quả như nho) và Reaih (rề cây). Tên họ thuộc đồ vật gồm
các họ Kar-ăi (cối xay), Prúng (một loại bầy sập có chông
nhọn), và Aveat (bã rượu đoác).
Lí do chọn tên họ là động vật, thực vật hay đô vật vừa
nêu, chi trừ họ Vien (con chó) được giải thích do huyết
thống, các họ còn lại có thể do một yếu tố thần kì. Như
23
chuyện con sóc nướng mãi không chín: “Có một người
bảo rẳne mọi người cần phải ăn con sóc đỏ ngay trong đêm
nay. Ón« ta hăng hái đứng dậy đi tìm một ống nứa già và
to đù đê nhét con sóc vào. Sau đó ông ta đặt ông nứa lên
bếp lửa. Mọi người như ngưng bớt câu chuyện, hồi hộp
chờ ống nứa chuyển từ màu xanh sang màu vàng rồi màu
ám khói đen. “Được rồi!”, một người đàn ông khác hô to
lên và xách ổng nứa ra khỏi bếp, tách nó ra làm đôi. Con
sóc vần nằm yên trong ống nứa với hình dáng cũ, lông
càng đỏ hơn cả mặt trời, cái mũi lại càng ươn ướt, những
móng chân lại trắng nồng hơn, đuôi như hoa plarơlôn. “Ôi
Con sóc chưa chín!”, Areaih (người chủ làng) buột miệng.
Một người vội chạy đi lấy ống nứa khác. Areaih tự tay nhét
con sóc vào ống nứa và đặt vào bếp lửa. Họ cùng chờ đợi,
nhưng con sóc nướng lần này cũng không chín. Nó vẫn giữ
nguyên màu đỏ tươi của hoa plarơlôn. Areaih ném con sóc
vào lửa, cho thêm củi vào bếp. Lạ lùng thay! Con sóc vẫn
nguyên vẹn. Những sợi lông đỏ tươi của nó không hề bị
xém cháy” . Dân làng kinh sợ, và có người đề nghị lấy Kê
làm họ. (Sự tích họ Kê).
Có khi một động vật hay thực vật được đặt tên họ do
chúne làm lợi cho chủ làng {Sự tích họ Tarnău), hoặc có
biểu hiện không bình thường: một con trút nhỏ nằm trong
vật đựng mà không sao bẳt được (Sự tích họ Akơơ), hoặc
vì muốn giữ quan hệ thân thiện với con vật khác (Sự tích
họ Patăq),...
24
Nhưng thường gặp hơn là sự hối hận do lồi lầm khiến
gây hậu quả tai hại, lấy đó đặt tên họ để răn mình (và người
khác). Anh nọ có tính keo bẩn, một hôm đi săn bắt được
một con vượn. Trong lúc hì hục thui vượn thì có khách đến.
Đó là người anh ruột và bạn của anh ta. Sợ đám người này
sẽ ăn thịt vượn, anh ta ném con vượn lên giàn cao. Không
ngờ có một que lửa dính ở tay con vượn gây cháy nhà. Vậy
là của cải trở thành tro bụi. Bị mọi người lên án, anh chàng
tĩnh ngộ, lấy làm hối tiếc, và đề nghị được dùng Avô làm
họ, đê tự răn mình (Sự tích họ Avỏ). Lại cũng có trường
hợp chết vì một đổi tượng nào đó, dùng tên đối tượng này
làm họ để kỉ niệm, ghi nhớ hay cầu an, hòng tránh điều
đáng tiếc kia trong mai hậu (Sự tích họ Reaih).
Mỗi khi được tôn làm họ, thì động vật hay thực vật
làm vật tô được người mang làm họ kính trọng, sùng bái.
Những người này tuyệt đối không ăn thịt, hái quả hay gây
hại đến vật tổ. Chẳng hạn, người mang họ Ahăr (con ếch)
tuyệt không làm hại đến ếch hay ăn thịt con vật này.
Với đồ vật, hai trường hợp dùng làm tên họ được kể có
tính chất ghi nhớ cho người đời sau nhiều hơn. Như họ Karăi (cối xay) thì nhằm nhắc nhở người cùng họ không làm
cối xay nhưne phải bở tiền ra mua (chứ không đi ăn trộm
như trước); họ Prúng (một loại bầy sập có chông nhọn) thì
nhắc nhở khi đặt loại bầy này phai làm dấu cho người biết
để tránh; cả trường hợp Aveat (bã rượu đoác) cũne vậy.
25
Dưới đây là bảng tóm tắt việc hình thành một số họ Ta
Ôi theo truyền thuyết:
Thuộc
loại Lí do được Tập quán và
cữ
động vật, thực nhận làm kiêng
liên quan
vật, hay dụng họ
cụ?
TT
TÊN
CÁC
HỌ
1
Tarnãu
Động vật: con
chó
2.
Vien
Động vật: con Huyết
thống
chó
3.
Kê
Động vật. con Biểu hiện
sóc
thần kì
Không săn
bắt hay ăn
thịt sóc.
4.
Lalăi
Động vật: con Biểu hiện
thần kì
sóc
-nt-
5.
Patăq
Động vật: con Quan hệ
thân thiện
mèo
với tự
nhiên
Không đập
đánh hay ăn
thịt mèo.
6.
Avô
Động vật: con Sự hối hận
vượn
vi thói xấu,
khiến gây
hậu quả
nghiêm
trọng
Không săn
bắt hay ăn
thịt vượn.
.
26
Giúp ích
cho chủ
làng
Không ăn
thịt chó,
chôn cất khi
chó chết.
-nt-
7.
Akơơ
Động vật: con Biêu hiện
trút
bất thường
Không săn
băt hay ăn
thịt trút.
8.
Aliăr
Động vật: con Biêu hiện
ếch
bất thường
(khiến vì
ếch mà
chết)
Không săn
bắt hay ãn
thịt ếch
9.
Blup
Akôl
Động vật: con Biều hiện
thăn lăn
thần ki
Không bắt,
giết than lằn.
10
Kêr
Động vật:
chim tut tiêt
Biểu hiện
thần kì
Không bát,
giết chim tut
tiêt.
11
Pihôih
Động vất:
ong mật
Quan hệ
thân thiện
với tự
Iihiên
Không ăn
ong mật.
12.
Piriu
Thực vật: cây
piriu
Không ăn
Ghi nhớ
việc tham
quá piriu.
ăn qua piriu
mà chết
13.
Reaih
Thực vật: bộ
phận rễ cây
Gill nhó
việc chết vi
vấp rễ cây
.
27
14.
Kar-ăi
Đồ vật: cái
cối xay
Biếu hiện
thần ki
Không làin
cối xay, mà
phải đi mua.
15.
Prúng
Đồ vật: loại
bẫy sập, có
chônsí đâm
Ghi nhớ
việc chết vì
sập bẫy
prúng
Khi đặt bẫy
piling, phái
làm dấu đề
mọi người
biết mà
tránh.
16.
Aveat
Đô vật: bã
rượu đoác
Ghi nhớ
việc quá
chén, gây
hậu quà tai
hại
Nhóm về sự tích các nhạc cụ gồm các truyền thuyết:
Sự tích cải trông, Sự tích cái khèn bè, Sự tích cây sáo
areeng, Sự tích chiếc tingat, Sự tích chiếc amam. Các
truyền thuyết cho thấy, các nhạc cụ được tạo nên nhờ
những vị thần: thần Rừng làm nên cái trống, thần Kotnhon
làm nên cây sáo areeng, thần Tro tạo ra chiếc tingat. Có
điều, không phải bồng dưng thần sáng tạo ra các dụng cụ
âm nhạc rồi gọi người dân đến để trao cho. Mà hoặc thần
đứng trước việc bắt buộc phải sáng tạo, như thần Rừng ăn
trâu của chàng trai Akưr. trước lời than vãn của chàng, đã
tạo nên cái trống để đền bù (Sự tích cái trống); hoặc trư ớ c
cảnh đôi trai gái đang đau xót khi không được cha mẹ cho
kết hôn, thần Kotnhon (thần hộ mệnh) đã động lòng, bày
28
cho họ làm chiếc sáo areeng; hoặc trước sự cầu xin thần
Tro cứu giúp cho việc trồng trỉa đang bị một loài chim moi
hạt giống lên ăn, thần đã bày cho dân làm chiếc tingat.
Bên cạnh thần linh, con người cũng sáng tạo ra dụng cụ
âm nhạc. Việc sáng tạo này có thể do cảm hứng khi đứng
trước một hiện thực bi hùng, như Sự tích cái khèn bè kể
việc mười bốn chàng trai tuấn kiệt đã hi sinh trong cuộc
chiến với quỷ dữ để giành nguồn nước, đem lại nguồn sổng
cho dân. Sau khi chôn cất các chàng, điều kì lạ đã xảy ra:
"Mộ nào cũng có một khóm sậy mọc dưới chân. Đêm đêm
gió lùa vào các khóm sậy, lao xao vọng những âm thanh
dịu dàng như lời ru thương nhớ”. Điều này đã tạo cảm
hứng cho một già làng, ông lấy mười bốn cây sậy của mười
bốn nhà mồ và ghép lại thành một khối bốn cây đều nhau
và sau đó từng đôi một cứ thấp dần thành sáu bậc; trên mồi
thân đoạn sậy có mắc bịt kín hai đầu cho hơi khòi thoát ra,
phía dưới làm một lưỡi gà nhỏ từ thân cây, trên lưỡi gà có
một lỗ nhỏ để thoát hơi: đó là chiếc khèn bè. Việc sáng tạo
ấy cũng có thể xuất phát từ đòi hỏi bức bách của cuộc sống,
như Sự tích chiếc amam: để dồ đứa con do đã quen ngủ
trong rừng, không chịu nín khóc khi ru nRÙ ở nhà, người
mẹ đã tạo nên chiếc sáo nhỏ (amam), thổi nghe như tiếng
ve kêu, chim hót, khiến đứa trẻ ngon giấc.
Truyền thuyết thường gắn với lịch sử, là lịch sử của một
đất nước. Nhưng cũng có thể là lịch sử của một địa bàn hay
một làng quê nhỏ của đất nước ấy: đó là trường hợp các
truyền thuyết về những thành hoàng làng, các vị tô họ,...
Điều này, khiến ta liên tưởng đến những dòng chày nhỏ
29
trong quan hệ với một dòng chảy lớn của lịch sử một dân
tộc, một đất nước.
Những truyền thuyết Ta Ồi vừa xét cũng có mối quan
hệ với lịch sử: lịch sử của núi sông, của dòng họ, của nhạc
cụ. Lịch sử ấy có quan hệ máu thịt với đồng bào (hiện nay,
nhiều người vẫn mang những dòng họ như đã trình bày),
nhưng so với lịch sử của đất nước thì mức độ quan hệ khá
mờ nhạt'°. Điều muốn đặt ra ở đây, là việc mở rộng khái
niệm truyền thuyết để có thể phù hợp với các nhóm truyện
của người Ta ô i vừa trình bày. Việc làm này nhàm tháo gỡ,
định dạng dần cái tập hợp lâu nay vẫn gọi là “truyện cổ”.
1.3.
Truyện cổ tích của dân tộc Ta Ôi khá phong phú.
Ở sách này, có 38 mẩu truyện được giới thiệu, chia làm
ba loại: truyện cổ tích thần kì (23 mẩu): Voóq Dúq hoá
cọp, Nàng Kalang Nietka, Anh em nhà Achât và chị em
nhà Kalang, Xang Lư lai, Nàng Pir Tulíq, Nàng Pir Tulíq
và chàng Tur (ỉ), Nàng Pir Tulíq và chàng Tur (II), Nàng
Piêr Chon và con trai thần Tuyê, Chàrìg Voi, Nàng Kupên,
Nàng Pâk Tuk, Nàng Apong, A pơơng và Aitông, Hai
anh em, Abâm và Angas (Ị), Abâm và Angas (II), Chiếc
khèn thần, Chuyện chàng Cóc, Người đội lốt mèo, Chàng
Rắn, Piruỉh Aroóq, Người vợ vượn, Chàng Lờng và lão
(1) Lí do hẳn vì cuộc sống du canh, tự cung tự cấp và hạn chế về
giao lưu giữa các làng bản, các dân tộc trước đây. Một sự tù
đọng về kinh tế xã hội tất yểu dẫn đến một sự khép kín về văn
hoá lịch sử, và sự khác biệt ờ bình diện này trở nên rõ ràng khi
có điều kiện đối sánh với các dân tộc khác.-Cái gọi là bản sắc
dân tộc được hình thành từ cơ sờ này.
30
Bay Bum (số thứ tự từ 1 đến 23); truyện cổ tích sinh hoạt
(11 mâu): Chàng Nơai, Chàng Aleng Noi, Chàng Ateeng,
Nàng Tagưk, Kabích và Achảt, Akong và Akai, Apeng và
Apin, Chàng mồ côi nhanh trí, Koai Turoal và tên nhà giàu
độc ác, Tachol và con gấu, Châu chấu và De (số thứ tự từ
24 đến 34); truyện cổ tích loài vật (4 mẩu): Sự tích chim trĩ
bới mộ, Sự tích con bọ ngựa, Con thỏ ranh ma, Thò và bà
(số thứ tự từ 35 đến 38).
1.3.1.
Truyện cổ tích thần kì có nội dung ca ngợi những
người con dũng cảm của bộ tộc, sằn sàng bảo vệ cộng
đồng, xây dựng làng bàn, tạo cuộc sống ấm no, hạnh phúc
cho mọi người. Voóq Dúq muốn...
s ủ ư (Chủ biên)
TRÀN NGUYỄN KHÁNH PHONG
TRIÈƯ .NGUYÊN
VĂN HÓA DÂN GIAN
CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
Ở THỪA THIÊN HUÊ
(SONG NGŨ V I Ệ T - T A Ôl, V I Ệ T - C O TU)
(Quyển 1)
Qj] NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA TH Ô N G TIN
VÃN HỌC DÂN GIAN
CÁC DÂN TỌC ÍT NGƯỜI
ở t h ừ À t h iên huế
(SONG N G Ữ VIỆT- TA ÔI, VIỆT - c o TU)
(Quyển 1)
Hội VẢN NGHỆ DÂN GIAN VIỆT NAM
KÊ SỬU (Chủ biên)
TRẦN NGUYÊN KHÁNH PHONG
TRIÈU NGUYÊN
VAN HỌC DAN GIAN
CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
Ở THỪA THIÊN HƯÉ
( S O N G N G Ữ V I Ệ T - TA ÔI, V I Ệ T - co TU)
(Quyển 1)
NHÀ XUÁT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN
D ự ÁN CÔNG BÓ, PHỐ BIÉN
TÀI SẢN VÃN HÓA, VĂN NGHỆ DÂN GIAN
VIỆT NAM
( E 1, Ngõ 29, Tạ Quang Bửu - Bách Khoa - Hà Nội
Điện thoại: (04) 3627 6439; Fax: (04) 3627 6440
Email: duandangian@gmail.com)
BAN CHỈ ĐẠO
1. GS. TSKH. TÔ NGỌC THANH
Trưởng ban
2. ThS. HUỲNH VĨNH ÁI
Phó Trưởng ban
3. GS.TS. NGUYẺN XUÂN KÍNH
4. TS. TRÀN HỮU SƠN
Phó Trướng ban
Uy viên
5. Ông NGUYÊN KIÉM
Uy viên
6. Nhà văn ĐỎ KIM CUÔNG
Uy viên
7. ThS. VŨ CỒNG HỘI
Uy viên
8. Nhà giáo NGUYÊN NGỌC QUANG Uy viên
9. ThS. ĐOÀN THANH NỒ
Uy viên
10. Ồng TRƯƠNG THANH HÙNG
Uy viên
GIÁM ĐÓC VĂN PHÒNG DỤ ÁN
ThS. ĐOÀN THANH NÔ
Chịu trách nhiệm nội dung:
GS.TSKH. TÔ NGỌC THANH
Tlíẩm định nội dung:
HỘI ĐÒNG THAM ĐỊNH BẢN THAO
LỜI GIỚI T H IỆ U
Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (VNDGVN) là một
tô chức chính trị xã hội nghê nghiệp, năm trong khôi Liên
hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.
Quyết định số 82/NV, ngày 01/03/1967 của Bộ Nội vụ
thay mặt Chính phú đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian
thành lập và hoạt động trên phạm vi toàn quốc và có mối
liên hệ nghề nghiệp với các tổ chức khác ở trong nước và
nước ngoài.
Tôn chi mục đích của Hội là “ Suu tầm, nghiên cứu,
phô biến và truyền dạy vốn văn hóa - văn nghệ dân gian
các tộc nguòi Việt Nam” . Trên cơ sơ thành qua của các
công việc trên, Hội là một trong những đội quân chủ lực
góp phần bảo tôn và phát huy những giá trị văn hóa - văn
nghệ mang đậm ban sắc dân tộc đã được ông cha ta sáng tạo
và giữ gìn trong suốt mấy nghìn năm của lịch sử dân tộc.
Những giá trị sáng tạo đó thê hiện mối quan hệ của các
tộc người Việt Nam với thiên nhiên thông qua các tri thức
san xuất nông nghiệp; với xã hội thông qua phong tục tập
quán, hội xuân; với nhàn sinh quan thông qua các nghi lễ
vòng đời người; với vũ trụ và thế giới tự nhiên đã được
siêu nhiên hóa thông qua các loại hình tín nsuờns tôn giáo;
9
với lý tường thẩm mỳ thông qua các sáng tạo văn học nghệ
thuật. Ỏ mỗi tộc người Việt Nam, những lĩnh vực và hình
thái văn hóa - văn nghệ này lại được the hiện trong một sắc
thái riêng. Chính kho tàng văn hóa đa dạng đó là nội dung,
là đối tượng hoạt động của hội viên Hội VNDGVN.
Sau gần 50 năm hoạt động, được sự lãnh đạo của Đảng
và sự chăm sóc của Nhà nước, Hội VNDGVN đã lớn mạnh
với trên 1.200 hội viên, số công trình do hội viên của Hội
đã hoàn thành lên đến 5000 công trình, hiện đang được lưu
giữ và bảo vệ tại Văn phòng Hội.
Được sự quan tâm của Ban Bí thư và Thủ tướn? Chính
phủ, Dự án “ Công bố và phố biến tài sản văn hóa - văn
nghệ dân gian các dân tộc Việt N am ” đã được phê duyệt.
Trong giai đoạn I (2008 - 2012), Dự án đã xuất bản 1.000
công trình, tác phẩm văn hóa - văn nghệ dân gian các dân
tộc; Giai đoạn II (2013 - 2017) Dự án sẽ tiếp tục công bố
thêm 1.500 công trình nữa.
Hy vọng, các xuất bản phẩm của Dự án sẽ cung cấp cho
bạn đọc trong và ngoài nước một bộ sách mang tính chất
bách khoa thư về các sắc màu văn hóa của các tộc người
Việt Nam, phục vụ thiết thực vào việc tra cứu, mở rộng
hiểu biết của bạn đọc về truyền thống văn hóa giàu có và
độc đáo đó; góp phần xây dựng nền "'văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” .
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Dự án mong nhận
được ý kiến chỉ bảo kịp thời của bạn đọc gần xa.
Xin chân thành cảm ơn!
Trưởng Ban Chi đạo thực lĩiện D ự án
G S.TSK H. Tô Ngọc T hanh
10
LỜI NÓI Đ Ầ U
Một công trình nghiên cứu của nhóm dân tộc học
Trường Đại học Tổng hợp Huế, do Nguyễn Quốc Lộc chủ
biên là Các dân tộc ít người ớ Bình Trị Thiên (Nxb. Thuận
Hoá, Huế, 1984), có nêu “Danh mục các thành phần dân
tộc tinh Bình Trị Thiên (xếp thứ tự theo dân số) là: 1) Kinh
(bao gồm người Nguồn ở Tuyên Hoá); 2) Vân Kiều (có các
nhóm Vân Kiều, Trì, Ma Coong, Khùa, Pa Hi); 3) Tà Ôi
(Nhóm sưu tầm, biên soạn sách này gọi là Ta Ôi); 4) Cơ
Tu; 5) Chút (gồm các nhóm Sách, Rục, Arem)” (tr. 45).
Cũng theo công trình này, thì Pa Cô là một tên gọi khác
(tên phiếm xưng) của Ta Ỏi (tr. 43). Địa bàn sinh sống
chú yếu của người Vân Kiều và người Chúrt là Quảng Trị,
Quảng Bình; địa bàn sinh sống chủ yếu của người Ta Ôi và
người Cơ Tu là Thừa Thiên Huế (người Cơ Tu sống đông
hơn ở các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Trà Mi,
Bắc Trà Mi và Phước Sơn thuộc Q u à n g Nam). Như vậy,
nói văn học dân gian các dân tộc ít người ở Thừa Thiên
Huế. là nói đến hai bộ phận: văn học dân gian dân tộc Ta
Ồi và văn học dân ẹian dân tộc Cơ Tu.
11
Cho đến nay, có ít nhất là các công trình sưu tập sau,
liên quan đến hai bộ phận văn học dân gian vừa nói (thứ tự
theo thời điểm công bố):
- Nguyễn Quốc Lộc (chủ biên), Nguyễn Hữu Thông,
Nguyễn Thị Hoà, Truyện cô Tà Ói, Sở Văn hoá Thông tin
Bình Trị Thiên xuất bản, 1985.
- Mai Văn Tấn, Con voi thần (Truyện cổ Vân Kiều, Tà
Ôi), Nxb. Thuận Hoá, Huế, 1996.
- Ban Văn học Việt Nam, Nẹười lấy vợ đá (In theo bản
Truyện cổ Tà Ôi, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1987),
Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000.
- Nguyễn Hữu Chúc và tgk., Truyện cổ cúc dân tộc
miền núi Bắc miền Trung, Nxb. Thuận Hoá, Nxb. Nghệ
An, Nxb. Thanh Hoá kết hợp xuất bàn, 2001.
- Trần Nguyễn Khánh Phong, Nguyễn Thị Sứu, Truyện
cổ Ta Ôi, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2005.
- Trần Nguyễn Khánh Phong, Chàng Phuật Nà (Truyện
cổ Tà Ôi, Cơ Tu), Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2006.
- Trần Nguyễn Khánh Phong, Ta Dưr Tư, Truyện cổ Pa
Cô, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2010.
Có thể thấy ràng, về văn học dân gian của hai dân tộc
đang bàn, truyện cổ là nổi trội và được các nhà sưu tầm
chú ý trước tiên. Các thê loại văn học dân gian khác thuộc
hình thức văn vần, như tục nsữ. ca dao, đồng dao, câu đố,...
chưa thấy có công; trình dạne sách. Và với “truyện cổ” đã
được quan tâm cũng cân phân định vê mặt thê loại: nhóm
12
truyện cổ thuộc thần thoại, thuộc truyền thuyết, truyện cồ
tích, truyện ngụ ngôn,...
Yêu câu về việc cần có công trình Văn học dân gian các
dân tộc ít người ở Thừa Thiên Huế đưọc đặt ra, nhàm giải
quyết tình hình trên. Bên cạnh đó, để đưa những sáng tạo
văn học dân gian quay trở lại với cộng đồng, là cội nguồn,
nơi xuất phát của chúng, lại phải nghĩ đến tiếng mẹ đẻ,
ngôn ngừ sản sinh ra những tinh hoa ấy, vấn đề song ngừ
giữa Việt ngừ và ngôn ngữ dân tộc liên quan cũng cần được
thực hiện. Đó là những phần việc, đồng thời, cũng là đặc
điểm mà công trình này có được.
Đe tiến hành công việc, Nhóm sưu tầm, biên soạn gồm
ba người, được phân công như sau (ghi phần việc chủ yếu):
1) Kê Sửu (tên khai sinh là Nguyễn Thị Sửu): Chủ biên;
sưu tầm tục ngữ, ca dao, một phần truyện cổ và dịch Ta Ôi
- Việt, Cơ Tu - Việt toàn bộ công trình;
2) Trần Nguyễn Khánh Phong: Sưu tầm một phần
truyện cổ;
3) Triều Nguyên: Hệ thống hoá các văn bản sưu tầm,
viết khái luận.
Neu việc sưu tầm văn học dân gian người Kinh phần
lớn do các thế hệ sinh viên (chủ yếu là ba trường: Trường
Đại học Khoa học Huế, Trường Đại học Sư phạm Huế, và
Trường Cao đẳne Sư phạm Huế) thực hiện, thì việc sưu
tầm văn học dân gian các dân tộc ít người lại do các nhà
nghiên cứu đảm trách
13
Do lực lượng mòng, địa bàn rộng, lại có sự ngăn cách
bởi bức tường ngôn ngữ, nên công việc sưu tầm đã tiêu tốn
khá nhiều thời gian, công sức. Đến thời điểm này, Nhóm
sưu tầm, biên soạn đã vượt qua các trở lực để hoàn thành
tập sách, với 335 văn bản của năm thể loại: thần thoại,
truyền thuyết, truyện cổ tích, tục ngữ, và ca dao. Tuy chưa
được như mong muốn (số lượng văn bản văn học dân gian
sưu tầm được có hạn, còn một số thể loại khác như truyện
cười, câu đố, đồng dao,... vắng bóng), nhưng cũng góp
phần nhất định vào công cuộc bảo tồn và phát huy các giá
trị văn hoá tinh thần truyền thống của hai dân tộc Ta Ôi và
Cơ Tu, đáp ứng yêu cầu đặt ra. Vả chăng, có thể xem đây
như một phác thảo, hay cơ sở để có thể bổ sung, bồi đắp
dần, khiến công trình sẽ hoàn thiện hơn trong tương lai.
Trên tinh thần ấy, Nhóm sưu tầm, biên soạn xin chân
thành cảm ơn về mọi sự giúp đỡ, cảm ơn Nhà xuất bản
XXX đã cho công bố lần đầu tập sách, và mong mỏi bạn
đọc góp ý để lần in sau được tốt hơn.
14
KHÁI LUẬN VÈ VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC
DÂN TỘC ÍT NGƯỜI Ở THỪ A THIÊN HUÉ
Sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ơ Thừa
Thiên Huế (song ngữ Việt - Ta Ôi, Việt - Cơ Tu) chia làm
hai phần Văn học dân gian dân tộc Ta Ỏi và Văn học dân
gian dân tộc Cơ Tu.
1. Người Ta Ôi là cư dân chủ thể của huyện A Lưới, làm
nương rẫy, chủ yếu là trồng cây lương thực. Đồng bào sống
với nhau thành từng veeln) (thường có một tên gọi riêng),
mồi vee! gồm khoảng vài chục nóc nhà (dung), bên cạnh
đó, còn có các chòi (xu) dùng để canh rầy. Một kiến trúc
công cộng cua toàn veel đáng chú ý !à trap kammooch
(nhà ma), nơi tập trung nhiều công trình điêu khắc, trang
trí mĩ thuật, có cột lớn, mái lợp bằng mây hoặc ống lồ ô rọc
hai nửa, đặt úp ngửa. Trap kammooch được dựng ở một
địa thế đẹp, nam ngoài rìa veel. dùng làm nơi sinh hoạt
(1) Đê thống nhất cách ghi âm. tự, Nhóm biên soạn, sưu tầm dựa
vào bàn điên chê ngữ âm năm 1986 của Viện Ngôn ngữ học
Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Binh Trị Thiên in thành
“Sách học tiếng Pakô - Ta ô i ” (với tiếng Ta Ôi) và "Sách học
tiếng Cơ Tu” (với tiếng Cơ Tu).
15
cua toàn veel trong nhữ ng dịp tan g ma, lề cai táng
(eal kammooch), các ngày hội, lễ tiết,...
Ngày trước, khi sản phẩm dệt còn hiếm hoi, đồng bào
Ta Ôi thường ở trần, đóng khố hoặc mang một loại váy
ngắn, gọi là amâng, được làm bằng vỏ cây abâi ngâm nước
dập dẹp và kết lại. Đồ trang sức chính của đồng bào là các
loại vòng bạc, vòng đồng, cườm, đá quý,... ờ một số cụ già
còn có vòng tay, vòn? chân bằng đồng đỏ, làm theo dạng lò
xo xoẳn, vấn quanh cánh tay hay ống chân. Tục cưa răng,
xăm mình hay căng tai ngoài ý nghĩa về mặt tín ngưỡng,
phong tục, còn thế hiện quan niệm thấm mĩ cùa rmười Ta
Ôi. Các thành viên đến tuổi trưởng thành đều chịu tục xăm
inình và cưa răng. Con trai thì xăm hình con hổ (mbăr), con
diều (kalang avăk) tượng trưng cho sức khoẻ, hình trái núi
(pile kooh) tượng trưng cho cảnh quan và nơi cư trú, hình
một loại cây lá thơm dễ sống tượng trưng cho sức bền bỉ
và ý chí tinh thần; con gái thì xăm hình cây abong với một
sợi dây leo quấn quanh, tượng trưng cho sự trong sạch của
bản thân và sự bảo vệ, che chở của veel; con trai hay con
gái đều xăm hình chừ thập (déng katténg) tượng trưng cho
lòng nhân từ, cố kết cộng đồng, duy trì nòi giống đế mãi
trường tồn...
Theo huvểt tộc, người Ta Ôi có các tổ chức yaq (dòng
họ), mồi yaq có xuất yaq (trưởng yaq), đại diện cho yaq
trong quan hệ với các thành viên của yaq và với toàn veel.
Yaq có thể mang tên gọi của một động vật, thực vật hay
đồ vật, như yaq Acho (con chó), yaq Plăng (co tranh), yaq
Apãl (cối giã gạo).... Dưới yaq là toop (hay chum), thường
16
sống trong cùng một veel (người cùng yaq lắm khi sinh
sống ở các veel khác nhau), dưới toop là kattooh, gồm
những thành viên có quan hệ máu mủ gần gũi nhất.
Nam nữ Ta Ôi đến tuổi trưởng thành được tự do tìm
hiểu nhau trong những dịp đi sim (vơâch xu). Phong tục
quy định, những laleéu (trai chưa vợ) và kammoor (gái
chưa chồng) sau giờ làm việc có thê theo nhau vào rừng
hoặc ra bờ sông, suối, ở các chòi (kot) dựng sẵn để trao đôi
tâm tình. Sau khi đôi nam nừ đã cảm thông nhau, họ trao
quà làm tin và người con trai sẽ báo với cha mẹ để nhờ ông
mai bà mối đến nhà gái đặt vấn đề. Neu được chấp thuận,
hai bên sẽ tiến hành lề hỏi (vơâch seak ideal). Ở lễ này, nhà
trai sẽ mang đến cho nhà gái một số của cải như vòng đặc,
chuỗi cườm, rượu nếp. Vào lễ cưới (dóng ikon), có nhiều
sính lễ quý như chiêng, ché, nồi đồng, trâu, bò, dê lợn, lúa,
nếp,... được nhà trai đưa đến để xin dâu.
Do tục thách cưới nặng nề nên trước đây có không ít
trường hợp những chàng mồ côi hay nghèo khô phải chịu
đơn độc, ngược lại, cũng có người giàu có cưới đưọc
nhiều vợ(l).
Văn học dân gian của neười Ta ô i hiện sưu tầm được
gồm năm thể loại: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích,
tục neữ và ca dao.
(1) Việc giới thiệu khái quát về người Ta Ôi vừa nêu. cũng như về
người Cơ Tu ở dưới, viết dựa theo: Nguyễn Quốc Lộc và tgk.
Các dân tộc ít người ớ Bình Trị Thiên, Nxb. Thuận Hoá.
Huế, 1984.
1.1.
Thần thoại Ta Ôi chủ yếu thuộc loại thần thoại suy
nguyên, là những thần thoại nhằm giải thích nguồn gổc con
người và một số sự vật, hiện tượng tự nhiên. Có hai mô
tip đáng chú ý: mô tip “quả bầu mẹ” và mô tip “quả trứng
thần” .
Sở dĩ nói “quả bầu mẹ”, vì đó là quả bầu sinh nở. Quả
bầu ấy sinh ra người: “Mùa xuân đến, khí trời ấm áp trở
lại. Cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, hương hoa thơm ngát rừng.
Đúng lúc này, quả bầu bồng vỡ ra, và con người từ lòng nó
vươn dậy” (Sự tích quả bầu mẹ). Đồng thời, nó cũng sinh
ra những giống lúa tốt để con người trồng trọt: “Kallong
Koq lấy mười quả bầu từ mười cái trui đem ra cắt đầu thì
từ trong quả bầu chảy ra mười loại gạo rẫy thơm ngon
nhất, đó là gạo rayư, kuya, trưi, pinhe, kupva, tréq, amék,
kuhom, atut, deep...” (Apok Sâu Arâu Koonh).
Hình tượng quả bầu có thể được hình thành từ tâm thức
của người Ta Ôi qua việc đây là vật đựng hạt giống, được
cất giữ cẩn thận, đó là nơi của sự trông mong, hi vọng. Khi
giải thích nguồn gốc các tộc người, quả bầu ấy do chó sinh
ra. Nếu xem con người và các loài động vật là ngang bậc
(như truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích từng làm), thì cái lí
của vấn đề là động vật sinh ra động vật. Điều này sẽ thích
ứng khi kể quả bầu sinh ra các giống gạo ngon được trồng
trọt mà thành (chứ không phải được người hay vật đẻ ra).
Cả Sự tích quả bầu mẹ và Nguồn gốc cùa người Ta Oi
(I và II) đều kể về quả bầu mẹ nhàm giải thích nguồn gốc
của người Kinh và người Ta Ôi (các*dân tộc vùng cao nói
chung): “Số người nam nửa trên bờ của quả bâu có nước da
18
ngăm đen, còn số có nước bảo vệ có làn da trẳng trẻo. Sô
người có màu da trắng xuôi theo dòng sông, dòng suối về
đồng bằng sinh sống. Những người có làn da ngăm đen lại
đi ngược về phía đầu nguồn, tìm rừng phát rẫy. Từ đó, hình
thành nên các dân tộc anh em vùng núi và vùng đồng bằng
cùng chung sống đoàn kết, đùm bọc, thương yêu nhau cho
đến bây giờ” (Sự tích quá bầu mẹ).
Mô tip “quả trứng thần” diễn giải một cách đầy đủ là
quả trứng nở ra thần linh (dưới dạng một con người có tài
nghệ xuất chúng). Như truyện Apok Sâu Arâu Koonh kê
về một bà lão côi cút, nghèo khổ, hôm nọ đi xúc tép cá ở
dọc bờ suối, thì bắt được một quả trứng, cỡ bằng trứng gà,
trứng vịt. Bà đưa về nhà nhờ gà hàng xóm ấp, nhưng nở ra
không phải là vịt hay gà inà ià một cậu bé. Cậu ta được đặt
tên là Kallong Koq. Kallong Koq khi trưởng thành đã đem
lại cho dân làng những giống lúa tốt đã nói. Và chàng cũng
cho dân làng biết, mình chính là Apok Sâu Arâu Koonh,
con trai của thần Tuyê ở dưới nước được cha sai lên trần
gian để tạo ra giống lúa giúp dân.
“Quả trứng thần” cũng xuất hiện trong mẩu thần thoại
Than Tireal Put. Put từ quả trứng nở ra, “được bà mang về
nuôi, Put lớn nhanh như thổi. Sau một ngày đã biết bò, sau
một đêm đã biết đi. Bà già chụm chưa hết gùi cùi nhặt được
lúc gặp Put, Put đã trở thành một chàng thanh niên vạm vỡ
khoẻ mạnh, sức vóc hơn người”. Chỉ có thần mới như thể.
Và đúng vậy: Put vốn là con của thần nông nhưng được
thai nghén trong lòng sông Asap.
19
Khi bắt gặp quả trứng thần mà hành xử không đúng,
như thay vì tạo điều kiện để trứng sinh nở lại để vui chơi
hay luộc chín, thì làng bản sẽ nhận lấy những thảm hoạ
khôn cùng. Sự tích lũ lụt kể việc dân làng đã hành xử không
đúng, khiến thần linh nổi giận gây thảm hoạ bằng lũ lụt.
Việc gây thảm hoạ bằng lũ lụt cũng tìm thấy trong truyền
thuyết Sự tích núi San Lai. Ở truyền thuyết này, do không
nhận ra quả trứng thần nên đã đem luộc mới phải rước lấy
một trận hồng thuỷ khủng khiếp.
Có thể thấy ràng, truyện Apok SâuArâu Koonh đã trình
bày, hay truyện Thần mặt trăng chỉ bày cho dân chọn ngày
để trồng trọt: “Như ngày mồng một, tức là klang, trồng sắn
sẽ được cù to và ngon; ngày mồng hai là rich klang, trồng
san sẽ bị cù nhỏ mà đắng; mồng ba tức pâng, trồng chuối
rất tốt, trái to nhiều nải; ngày rằm do thần arkoal cai quản
thì trồng dứa sẽ được bé cùi, mỏng vỏ và rất ngọt; còn mía
và bắp phải trồng từ ngày hai mươi trở lên mới tốt, nếu
trồng trước ngày này thì cây bắp sẽ bị trắng lá, còn mía
phải chịu sâu đục mà thôi...”, có dáng dấp của loại thần
thoại sáng tạo.
Thật ra, có sự đan xen giữa các loại thần thoại, và cả
đường ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết ở đây
cũng không được rõ ràng.
1. 2 .
Truyền thuyết của dân tộc Ta Ôi có thể chia làm ba
nhóm: nhóm về sự tích các ngọn núi, dòng sông; nhóm về
sự tích các dòng họ; và nhóm về sự tích các nhạc cụ.
20
Nhóm về sự tích các ngọn núi, dòng sông: Sự tích núi
Seam Sai, Sự tích doc Par see, Truyền thuyêt sông Asáp
(Ma Mứt Ma Ma), Truyên thuyêt sông Dakkroong, nhăm
giải thích vì sao có cái tên gọi như thế. Sở dĩ tên núi là
Seam Sai vì ở đó có hai anh em rất mực thương nhau, đã
cùng chết trong hang núi (seam sai: anh em); sở dĩ gọi dốc
Parsee vì ở đó đã ghi dấu của một tình yêu mãnh liệt, mà
chỉ ở những người sống chết vì yêu mới có được (parsee:
tình yêu bất diệt);...
Điều đáng nói, là những sự tích, những truyền thuyết
ấy, phần lớn là những câu chuyện tình bi tráng, trong đó,
việc hết mình vì người yêu và sự thuỷ chung son sắt nôi
bật hẳn lên. Hình ảnh chàng trai mồ côi nghèo khó hai tay
nâng lấy người yêu, đôi chân rướm máu vì phải chạy lên
một con dốc dài, lởm chởm những đá nhọn, để tránh người
đuổi theo và chém mình từ phía sau, tạo ấn tượng mạnh
trong lòng người đọc, người nghe. Và đây là đoạn cuối
của cuộc “thi thố” bất công ấy: “Cơn gió chiều trên dốc
núi thổi ngược xuống tạt vào khuôn mặt đang vã mồ hôi
của chàng mồ côi những tưởng làm xoa dịu nồi khó nhọc!
Bước chân chàng cứ vun vút bay như chú sóc nhẹ nhàng
chuyển mình từ cành này sang cành kia trên một cây đại
thụ. Sỏi dốc làm các mũi bàn chân chàng rướm máu, đôi
bàn tay đã tê cứns nhưng không thể dừng lại, không được
dừng lại! Khône phải vì có người đang rượt đuổi mà vi cái
đích dừng chân chưa tới. Khi ông mặt trời kê núi cùng là
lúc chàng cùng noười yêu trên tay lên đến đinh núi. Nhẹ
nhàng đặt người yêu xuống 2ổc cây Irây rồi mình cũne la
dần vì đuối sức. Cô gái thấy vậy liền tháo chiếc khăn trùm
đầu, xoâ suối tóc đã nhúng nước trước đó, dịu dàng vất
những giọt nước thấm đầm tình yêu xuống làn môi khô
khốc của chàng. Chàng từ từ mở mắt và nở nụ cười hạnh
phúc” . Đó là sự chiến thắng của sức mạnh tình yêu (Sự tích
dôc Par see).
Hoặc hình ảnh của đôi tình nhân Ma Mứt và Ma Ma (là
con của hai chủ làng kình chống nhau quyết liệt), một lòng
muốn được bên nhau cho dù phải gặp nhau nơi giữa dòng
sông, trước sự chăm chú của dân hai làng tập trung ở đôi
bờ. Họ ôm nhau và khóc than trong tuyệt vọng. Biết không
thể lấy được nhau khi hai làng coi nhau là thù địch, đôi trẻ
đã chọn cho mình cái chết. Nhờ cái chết ấy mà dân hai làng
tỉnh ngộ: họ làm lành và hoà thuận với nhau ( Truyền thuyết
sông Asáp).
Trong những câu chuyện tình đẫm nước mắt này, không
chỉ có những chàng trai dũng mãnh, sẵn sàng hi sinh tính
mạng vì người yêu, mà cả những cô gái một lòng thuỷ
chung, chống trả quyết liệt trước kẻ ác hung bạo. Như nàng
Dakkroong đã dút khoát từ chối những cám dỗ của người
anh trai chồng, một mực thuỷ chung với chàng út chồng
mình. Nàng bị người anh chồng độc ác đem bỏ vào hang
núi. Hắn bảo chàng út là Dakkroong đang ở phía đông
trong lúc lại nhốt nàng ở phía tây. “Chàng vừa đi vừa thổi
Areeng cho nàng nghe thây mà hát lên cho chàng tìm đên.
Tiếng kèn não nùng vang khắp cả núi rừng và đên tận tai
nàng. Biết chồng đi tìm mình, nàng Dakkroong vội lấy một
22
ổng mung, tách ra thành hai sợi cột và nâng lên thành hai
sợi dây đàn. Nàng cầm đàn gáy lên từng khúc nhạc trầm
bổng, não nuột. Tiếng đàn ngân xa ngàn núi và đến bên
tai chàng út. Chàng út vội quay lại đi về hướng tây nơi có
tiếng đàn huyền diệu, vừa đi chàng vừa thổi Areeng. Nàng
Dakkroong nghe tiếng Areeng vội ra cửa hang và đi nhanh
về phía đông để mong được gặp chàng. Và hai vợ chồng lại
được gặp nhau dưới chân một ngọn núi cao vút” ( Truyền
thuyết sông Dakkroong).
Nhóm về sự tích các dòng họ chiếm số lượng lớn các
truyền thuyết người Ta ôi. Dựa vào việc tên gọi về họ ấy
thuộc loại sự vật gì, có thể chia chúng làm ba nhóm nhỏ:
tên họ thuộc động vật, tên họ thuộc thực vật, và tên họ
thuộc đồ vật.
Tên họ thuộc động vật gồm các họ Tarnău (con chó),
Vien (con chó), Kê (con sóc), Lalăi (con sóc), Blup Akôl
(con thằn lằn), Patăq (con mèo), Avô (con vượn), Akơơ
(con trút), Ahăr (con ếch), kêr (con chim tut tiêt), và Pihôih
(con ong mật). Phần lớn là các con vật gần gũi với người
Ta Ói, nhiều nhất là thú, kế đến là bò sát, động vật biết
bay. Tên họ thuộc thực vật gồm các họ Piriu (loài cây có
quả như nho) và Reaih (rề cây). Tên họ thuộc đồ vật gồm
các họ Kar-ăi (cối xay), Prúng (một loại bầy sập có chông
nhọn), và Aveat (bã rượu đoác).
Lí do chọn tên họ là động vật, thực vật hay đô vật vừa
nêu, chi trừ họ Vien (con chó) được giải thích do huyết
thống, các họ còn lại có thể do một yếu tố thần kì. Như
23
chuyện con sóc nướng mãi không chín: “Có một người
bảo rẳne mọi người cần phải ăn con sóc đỏ ngay trong đêm
nay. Ón« ta hăng hái đứng dậy đi tìm một ống nứa già và
to đù đê nhét con sóc vào. Sau đó ông ta đặt ông nứa lên
bếp lửa. Mọi người như ngưng bớt câu chuyện, hồi hộp
chờ ống nứa chuyển từ màu xanh sang màu vàng rồi màu
ám khói đen. “Được rồi!”, một người đàn ông khác hô to
lên và xách ổng nứa ra khỏi bếp, tách nó ra làm đôi. Con
sóc vần nằm yên trong ống nứa với hình dáng cũ, lông
càng đỏ hơn cả mặt trời, cái mũi lại càng ươn ướt, những
móng chân lại trắng nồng hơn, đuôi như hoa plarơlôn. “Ôi
Con sóc chưa chín!”, Areaih (người chủ làng) buột miệng.
Một người vội chạy đi lấy ống nứa khác. Areaih tự tay nhét
con sóc vào ống nứa và đặt vào bếp lửa. Họ cùng chờ đợi,
nhưng con sóc nướng lần này cũng không chín. Nó vẫn giữ
nguyên màu đỏ tươi của hoa plarơlôn. Areaih ném con sóc
vào lửa, cho thêm củi vào bếp. Lạ lùng thay! Con sóc vẫn
nguyên vẹn. Những sợi lông đỏ tươi của nó không hề bị
xém cháy” . Dân làng kinh sợ, và có người đề nghị lấy Kê
làm họ. (Sự tích họ Kê).
Có khi một động vật hay thực vật được đặt tên họ do
chúne làm lợi cho chủ làng {Sự tích họ Tarnău), hoặc có
biểu hiện không bình thường: một con trút nhỏ nằm trong
vật đựng mà không sao bẳt được (Sự tích họ Akơơ), hoặc
vì muốn giữ quan hệ thân thiện với con vật khác (Sự tích
họ Patăq),...
24
Nhưng thường gặp hơn là sự hối hận do lồi lầm khiến
gây hậu quả tai hại, lấy đó đặt tên họ để răn mình (và người
khác). Anh nọ có tính keo bẩn, một hôm đi săn bắt được
một con vượn. Trong lúc hì hục thui vượn thì có khách đến.
Đó là người anh ruột và bạn của anh ta. Sợ đám người này
sẽ ăn thịt vượn, anh ta ném con vượn lên giàn cao. Không
ngờ có một que lửa dính ở tay con vượn gây cháy nhà. Vậy
là của cải trở thành tro bụi. Bị mọi người lên án, anh chàng
tĩnh ngộ, lấy làm hối tiếc, và đề nghị được dùng Avô làm
họ, đê tự răn mình (Sự tích họ Avỏ). Lại cũng có trường
hợp chết vì một đổi tượng nào đó, dùng tên đối tượng này
làm họ để kỉ niệm, ghi nhớ hay cầu an, hòng tránh điều
đáng tiếc kia trong mai hậu (Sự tích họ Reaih).
Mỗi khi được tôn làm họ, thì động vật hay thực vật
làm vật tô được người mang làm họ kính trọng, sùng bái.
Những người này tuyệt đối không ăn thịt, hái quả hay gây
hại đến vật tổ. Chẳng hạn, người mang họ Ahăr (con ếch)
tuyệt không làm hại đến ếch hay ăn thịt con vật này.
Với đồ vật, hai trường hợp dùng làm tên họ được kể có
tính chất ghi nhớ cho người đời sau nhiều hơn. Như họ Karăi (cối xay) thì nhằm nhắc nhở người cùng họ không làm
cối xay nhưne phải bở tiền ra mua (chứ không đi ăn trộm
như trước); họ Prúng (một loại bầy sập có chông nhọn) thì
nhắc nhở khi đặt loại bầy này phai làm dấu cho người biết
để tránh; cả trường hợp Aveat (bã rượu đoác) cũne vậy.
25
Dưới đây là bảng tóm tắt việc hình thành một số họ Ta
Ôi theo truyền thuyết:
Thuộc
loại Lí do được Tập quán và
cữ
động vật, thực nhận làm kiêng
liên quan
vật, hay dụng họ
cụ?
TT
TÊN
CÁC
HỌ
1
Tarnãu
Động vật: con
chó
2.
Vien
Động vật: con Huyết
thống
chó
3.
Kê
Động vật. con Biểu hiện
sóc
thần kì
Không săn
bắt hay ăn
thịt sóc.
4.
Lalăi
Động vật: con Biểu hiện
thần kì
sóc
-nt-
5.
Patăq
Động vật: con Quan hệ
thân thiện
mèo
với tự
nhiên
Không đập
đánh hay ăn
thịt mèo.
6.
Avô
Động vật: con Sự hối hận
vượn
vi thói xấu,
khiến gây
hậu quả
nghiêm
trọng
Không săn
bắt hay ăn
thịt vượn.
.
26
Giúp ích
cho chủ
làng
Không ăn
thịt chó,
chôn cất khi
chó chết.
-nt-
7.
Akơơ
Động vật: con Biêu hiện
trút
bất thường
Không săn
băt hay ăn
thịt trút.
8.
Aliăr
Động vật: con Biêu hiện
ếch
bất thường
(khiến vì
ếch mà
chết)
Không săn
bắt hay ãn
thịt ếch
9.
Blup
Akôl
Động vật: con Biều hiện
thăn lăn
thần ki
Không bắt,
giết than lằn.
10
Kêr
Động vật:
chim tut tiêt
Biểu hiện
thần kì
Không bát,
giết chim tut
tiêt.
11
Pihôih
Động vất:
ong mật
Quan hệ
thân thiện
với tự
Iihiên
Không ăn
ong mật.
12.
Piriu
Thực vật: cây
piriu
Không ăn
Ghi nhớ
việc tham
quá piriu.
ăn qua piriu
mà chết
13.
Reaih
Thực vật: bộ
phận rễ cây
Gill nhó
việc chết vi
vấp rễ cây
.
27
14.
Kar-ăi
Đồ vật: cái
cối xay
Biếu hiện
thần ki
Không làin
cối xay, mà
phải đi mua.
15.
Prúng
Đồ vật: loại
bẫy sập, có
chônsí đâm
Ghi nhớ
việc chết vì
sập bẫy
prúng
Khi đặt bẫy
piling, phái
làm dấu đề
mọi người
biết mà
tránh.
16.
Aveat
Đô vật: bã
rượu đoác
Ghi nhớ
việc quá
chén, gây
hậu quà tai
hại
Nhóm về sự tích các nhạc cụ gồm các truyền thuyết:
Sự tích cải trông, Sự tích cái khèn bè, Sự tích cây sáo
areeng, Sự tích chiếc tingat, Sự tích chiếc amam. Các
truyền thuyết cho thấy, các nhạc cụ được tạo nên nhờ
những vị thần: thần Rừng làm nên cái trống, thần Kotnhon
làm nên cây sáo areeng, thần Tro tạo ra chiếc tingat. Có
điều, không phải bồng dưng thần sáng tạo ra các dụng cụ
âm nhạc rồi gọi người dân đến để trao cho. Mà hoặc thần
đứng trước việc bắt buộc phải sáng tạo, như thần Rừng ăn
trâu của chàng trai Akưr. trước lời than vãn của chàng, đã
tạo nên cái trống để đền bù (Sự tích cái trống); hoặc trư ớ c
cảnh đôi trai gái đang đau xót khi không được cha mẹ cho
kết hôn, thần Kotnhon (thần hộ mệnh) đã động lòng, bày
28
cho họ làm chiếc sáo areeng; hoặc trước sự cầu xin thần
Tro cứu giúp cho việc trồng trỉa đang bị một loài chim moi
hạt giống lên ăn, thần đã bày cho dân làm chiếc tingat.
Bên cạnh thần linh, con người cũng sáng tạo ra dụng cụ
âm nhạc. Việc sáng tạo này có thể do cảm hứng khi đứng
trước một hiện thực bi hùng, như Sự tích cái khèn bè kể
việc mười bốn chàng trai tuấn kiệt đã hi sinh trong cuộc
chiến với quỷ dữ để giành nguồn nước, đem lại nguồn sổng
cho dân. Sau khi chôn cất các chàng, điều kì lạ đã xảy ra:
"Mộ nào cũng có một khóm sậy mọc dưới chân. Đêm đêm
gió lùa vào các khóm sậy, lao xao vọng những âm thanh
dịu dàng như lời ru thương nhớ”. Điều này đã tạo cảm
hứng cho một già làng, ông lấy mười bốn cây sậy của mười
bốn nhà mồ và ghép lại thành một khối bốn cây đều nhau
và sau đó từng đôi một cứ thấp dần thành sáu bậc; trên mồi
thân đoạn sậy có mắc bịt kín hai đầu cho hơi khòi thoát ra,
phía dưới làm một lưỡi gà nhỏ từ thân cây, trên lưỡi gà có
một lỗ nhỏ để thoát hơi: đó là chiếc khèn bè. Việc sáng tạo
ấy cũng có thể xuất phát từ đòi hỏi bức bách của cuộc sống,
như Sự tích chiếc amam: để dồ đứa con do đã quen ngủ
trong rừng, không chịu nín khóc khi ru nRÙ ở nhà, người
mẹ đã tạo nên chiếc sáo nhỏ (amam), thổi nghe như tiếng
ve kêu, chim hót, khiến đứa trẻ ngon giấc.
Truyền thuyết thường gắn với lịch sử, là lịch sử của một
đất nước. Nhưng cũng có thể là lịch sử của một địa bàn hay
một làng quê nhỏ của đất nước ấy: đó là trường hợp các
truyền thuyết về những thành hoàng làng, các vị tô họ,...
Điều này, khiến ta liên tưởng đến những dòng chày nhỏ
29
trong quan hệ với một dòng chảy lớn của lịch sử một dân
tộc, một đất nước.
Những truyền thuyết Ta Ồi vừa xét cũng có mối quan
hệ với lịch sử: lịch sử của núi sông, của dòng họ, của nhạc
cụ. Lịch sử ấy có quan hệ máu thịt với đồng bào (hiện nay,
nhiều người vẫn mang những dòng họ như đã trình bày),
nhưng so với lịch sử của đất nước thì mức độ quan hệ khá
mờ nhạt'°. Điều muốn đặt ra ở đây, là việc mở rộng khái
niệm truyền thuyết để có thể phù hợp với các nhóm truyện
của người Ta ô i vừa trình bày. Việc làm này nhàm tháo gỡ,
định dạng dần cái tập hợp lâu nay vẫn gọi là “truyện cổ”.
1.3.
Truyện cổ tích của dân tộc Ta Ôi khá phong phú.
Ở sách này, có 38 mẩu truyện được giới thiệu, chia làm
ba loại: truyện cổ tích thần kì (23 mẩu): Voóq Dúq hoá
cọp, Nàng Kalang Nietka, Anh em nhà Achât và chị em
nhà Kalang, Xang Lư lai, Nàng Pir Tulíq, Nàng Pir Tulíq
và chàng Tur (ỉ), Nàng Pir Tulíq và chàng Tur (II), Nàng
Piêr Chon và con trai thần Tuyê, Chàrìg Voi, Nàng Kupên,
Nàng Pâk Tuk, Nàng Apong, A pơơng và Aitông, Hai
anh em, Abâm và Angas (Ị), Abâm và Angas (II), Chiếc
khèn thần, Chuyện chàng Cóc, Người đội lốt mèo, Chàng
Rắn, Piruỉh Aroóq, Người vợ vượn, Chàng Lờng và lão
(1) Lí do hẳn vì cuộc sống du canh, tự cung tự cấp và hạn chế về
giao lưu giữa các làng bản, các dân tộc trước đây. Một sự tù
đọng về kinh tế xã hội tất yểu dẫn đến một sự khép kín về văn
hoá lịch sử, và sự khác biệt ờ bình diện này trở nên rõ ràng khi
có điều kiện đối sánh với các dân tộc khác.-Cái gọi là bản sắc
dân tộc được hình thành từ cơ sờ này.
30
Bay Bum (số thứ tự từ 1 đến 23); truyện cổ tích sinh hoạt
(11 mâu): Chàng Nơai, Chàng Aleng Noi, Chàng Ateeng,
Nàng Tagưk, Kabích và Achảt, Akong và Akai, Apeng và
Apin, Chàng mồ côi nhanh trí, Koai Turoal và tên nhà giàu
độc ác, Tachol và con gấu, Châu chấu và De (số thứ tự từ
24 đến 34); truyện cổ tích loài vật (4 mẩu): Sự tích chim trĩ
bới mộ, Sự tích con bọ ngựa, Con thỏ ranh ma, Thò và bà
(số thứ tự từ 35 đến 38).
1.3.1.
Truyện cổ tích thần kì có nội dung ca ngợi những
người con dũng cảm của bộ tộc, sằn sàng bảo vệ cộng
đồng, xây dựng làng bàn, tạo cuộc sống ấm no, hạnh phúc
cho mọi người. Voóq Dúq muốn...
 





